Tin tức thị trường

Đón cơ hội từ thị trường carbon

Vneconomy
· 6 giờ trước
Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển đổi quan trọng từ xây dựng khung pháp lý sang triển khai thực tế thị trường carbon. Phát triển các dự án tạo tín chỉ carbon, tham gia thị trường carbon đang mở ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp Việt.
Đón cơ hội từ thị trường carbon - Ảnh 1
Đón cơ hội từ thị trường carbon - Ảnh 2
Đón cơ hội từ thị trường carbon - Ảnh 3

'Hiện nay, việc tuân thủ các tiêu chí yêu cầu giảm phát thải không còn mang tính khuyến khích, mà đã trở thành một điều kiện tiên quyết với các doanh nghiệp.

Để có thể tận dụng các cơ hội, vượt qua thách thức khi đáp ứng các yêu cầu giảm phát thải và tham gia sàn giao dịch carbon, các doanh nghiệp cần cách tiếp cận có tính chiến lược dài hạn.

Theo đó, doanh nghiệp cần coi giảm phát thải không chỉ là yêu cầu tuân thủ hành chính mà còn quản lý hàng hóa tín chỉ và hạn ngạch có hiệu quả. Đồng thời doanh nghiệp cần nhìn nhận thị trường carbon, sàn giao dịch carbon như một phương thức hỗ trợ giảm phát thải chứ không chỉ nhìn dưới góc độ tìm kiếm lợi nhuận.

Trên cơ sở cách tiếp cận đó, tôi cho rằng các doanh nghiệp cần lưu ý 3 vấn đề.

Thứ nhất, các doanh nghiệp cần chủ động xây dựng năng lực về thị trường carbon, hiểu biết về các sản phẩm carbon, sự khác biệt giữa hạn ngạch phát thải và tín chỉ carbon cũng như các quyền và quy định pháp lý liên quan, có sự chủ động quản lý.

Đồng thời, doanh nghiệp cần xây dựng nguồn nhân lực nội bộ chuyên về carbon như có các cán bộ am hiểu về carbon, hạch toán carbon… Tín chỉ carbon được giao dịch trên sàn nên các doanh nghiệp cần phải quản lý, tối ưu hóa lợi ích kinh tế. Điều này không chỉ áp dụng với các doanh nghiệp nằm trong diện phân bổ hạn ngạch hay các doanh nghiệp đang có dự án tạo tín chỉ carbon mà cả các doanh nghiệp đang có mức phát thải cao cũng cần phải quan tâm.

Thực tế hiện nay mới chỉ có 110 doanh nghiệp thuộc diện áp dụng hạn ngạch nhưng trong thời gian tới, số lượng chắc chắn sẽ thay đổi. Vì vậy, các doanh nghiệp cần phải chủ động trong lĩnh vực này.

Thứ hai, các doanh nghiệp cũng cần nắm bắt các quy định về thuế, tài chính có liên quan. Ví dụ như luật thuế thu nhập doanh nghiệp có quy định thu nhập chuyển nhượng kết quả giảm phát thải, chuyển nhượng tín chỉ carbon lần đầu sau khi phát hành của doanh nghiệp được cấp tín chỉ carbon được miễn thuế…

Thứ ba, doanh nghiệp cần xây dựng kế hoạch dài hạn để đảm bảo chi phí tuân thủ đối với các yêu cầu giảm phát thải là tốt nhất. Bởi dư địa giảm phát thải trong sản xuất của một số ngành có giới hạn, do đó, doanh nghiệp có thể lựa chọn đầu tư công nghệ hiện đại, tối ưu để giảm phát thải.

Trong trường hợp không thể tìm được công nghệ giảm phát thải hoặc chi phí đầu tư công nghệ quá lớn, doanh nghiệp có thể nghiên cứu áp dụng các biện pháp khác như mua hạn ngạch, bù trừ tín chỉ. Sàn giao dịch carbon trong nước sẽ là công cụ để hỗ trợ doanh nghiệp đạt được mục tiêu này'.

Đón cơ hội từ thị trường carbon - Ảnh 4
Đón cơ hội từ thị trường carbon - Ảnh 5

'Việc thiết lập một hệ thống tín chỉ carbon vận hành hiệu quả không chỉ giúp Việt Nam huy động nguồn lực tài chính cho mục tiêu Net Zero vào năm 2050, mà còn là đòn bẩy nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp.

Quá trình này mở ra cơ hội đổi mới sáng tạo, củng cố vị thế thị trường và thu hút đầu tư quốc tế. Song trong bối cảnh gần 1/3 lượng phát thải toàn cầu đã được bao phủ bởi các cơ chế định giá carbon, thị trường đang đòi hỏi khắt khe hơn về tính minh bạch và chất lượng dự án. Do đó, việc hỗ trợ doanh nghiệp hiểu và thích ứng với các tiêu chuẩn kỹ thuật là yếu tố then chốt khi Việt Nam chuẩn bị vận hành thí điểm thị trường carbon trong thời gian tới.

Trong hành trình này, Australia khẳng định cam kết đồng hành cùng Việt Nam thông qua các hỗ trợ về tài chính, kỹ thuật và chia sẻ kinh nghiệm vận hành thực tiễn. Với lịch sử hỗ trợ hơn 3 tỷ AUD cho sự phát triển của Việt Nam trong 50 năm qua, Australia hiện xem hợp tác khí hậu và năng lượng là một trụ cột chiến lược.

Kể từ khi hai nước cùng cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, hợp tác trong các lĩnh vực khí hậu, môi trường và năng lượng đã trở thành một trụ cột quan trọng trong quan hệ song phương.

Để hiện thực hóa các cam kết chiến lược, Australia đã và đang hợp tác chặt chẽ với Việt Nam thông qua nhiều nền tảng kỹ thuật và tài chính. Thông qua chương trình Nền tảng đối tác doanh nghiệp (BPP), Australia đã đầu tư gần 10 triệu AUD để thử nghiệm các mô hình sản xuất lúa phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long và phát triển thị trường carbon tự nguyện. Chương trình Aus4Innovation (33,5 triệu AUD) đang thúc đẩy hệ sinh thái nông nghiệp thông minh thích ứng với khí hậu, có khả năng tạo ra tín chỉ carbon chất lượng cao.

Bên cạnh đó, thông qua Quan hệ Đối tác tài chính khí hậu (ACFP), Australia đã hỗ trợ tài chính ưu đãi cho doanh nghiệp sản xuất xe điện trong nước triển khai đội xe buýt điện đầu tiên tại Việt Nam, đồng thời đóng góp vào quỹ cho vay ủy thác tại VPBank để phát triển hạ tầng bền vững.

Việc hợp tác với các tổ chức quốc tế như UNOPS cũng giúp cung cấp các hỗ trợ tổng thể từ cấp độ chính sách, pháp lý đến nâng cao năng lực triển khai thực tế cho Việt Nam'.

Đón cơ hội từ thị trường carbon - Ảnh 6
Đón cơ hội từ thị trường carbon - Ảnh 7

'Việt Nam hiện có 110 doanh nghiệp được lựa chọn thí điểm phân bổ hạn ngạch (trong số 2.166 cơ sở thuộc danh mục phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính) để tham gia thị trường trong giai đoạn vận hành thí điểm. Trong số đó có 51/61 doanh nghiệp đến từ ngành xi măng.

Chủ thể tham gia thị trường carbon trong giai đoạn thí điểm đa phần là các doanh nghiệp có quyền mua bán, tuân thủ phân bổ hạn ngạch.

Từ góc nhìn doanh nghiệp, tôi nhận thấy nhu cầu tham gia thị trường là rất lớn. Có thể nói, cứ 10 doanh nghiệp thì có tới 9 đơn vị đang chuyển đổi xanh có nhu cầu tham gia. Tuy nhiên, các doanh nghiệp cần hiểu rõ vai trò, vị trí của mình như thế nào trong thị trường này.

Trước khi có thị trường carbon, các doanh nghiệp đã tiên phong chuyển đổi xanh ở Việt Nam đều xuất phát từ yêu cầu của thị trường. Hầu hết các doanh nghiệp thành viên Hiệp hội Doanh nghiệp xanh TP. Hồ Chí Minh đều có sản phẩm, hàng hóa xuất khẩu ra thị trường quốc tế, trong đó có những đơn vị đã xuất khẩu sang 165 nước trên thế giới.

Thực tế, vấn đề lớn nhất với các doanh nghiệp không nằm ở công nghệ hay nguồn tài chính mà là nhận thức về cơ hội cũng như các rủi ro liên quan (cả về tài chính và pháp lý). Các quy định về quyền sở hữu tín chỉ carbon vẫn chưa thực sự rõ ràng. Đây là một trong những lý do khiến doanh nghiệp còn băn khoăn, e ngại đầu tư để tạo ra hàng hóa này. Bởi khi bỏ chi phí để tạo ra tín chỉ, doanh nghiệp cần chắc chắn về quyền sở hữu hàng hóa cũng như khả năng sinh lời.

Hiện nay, khi đã có các văn bản quy định rõ ràng hơn, thời gian tới các doanh nghiệp sẽ bắt đầu tham gia. Tuy nhiên, để tạo ra một hàng hóa là tín chỉ carbon, doanh nghiệp cần từ 1,5 đến 2 năm, với quy trình kỹ thuật phức tạp, hệ thống MRV và các thủ tục pháp lý… đòi hỏi cần nguồn lực lớn.

Trong khi đó, phần lớn doanh nghiệp vẫn chưa có bộ phận chuyên trách về quản lý carbon. Vì vậy, dù ý chí tham gia của doanh nghiệp đã có, việc triển khai trên thực tế vẫn còn hạn chế.

Có thể khẳng định, các doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn sẵn sàng tham gia thị trường carbon nếu có cơ hội. Các doanh nghiệp nhận thấy cơ hội này ở Việt Nam nhiều hơn so với các nước trên thế giới'.

Đón cơ hội từ thị trường carbon - Ảnh 8
Đón cơ hội từ thị trường carbon - Ảnh 9

'Trong hành trình hướng tới mục tiêu Net Zero, tín chỉ carbon removal (hấp thụ/loại bỏ carbon) không chỉ là một công cụ hỗ trợ mà đã trở thành yếu tố cốt lõi mang tính quyết định.

Khác với các loại tín chỉ 'tránh phát thải' (avoidance) vốn chỉ nhằm giảm bớt lượng khí thải, tín chỉ removal trực tiếp hấp thụ/loại bỏ lượng CO₂ đã tồn tại trong khí quyển và lưu trữ chúng lâu dài. Các phương thức lưu trữ phổ biến thông qua rừng, đất, đại dương hoặc các vật liệu như than sinh học (biochar). Trong thực tế luôn có những ngành sản xuất 'khó giảm' phát thải tuyệt đối, do đó, chỉ có loại bỏ carbon mới giúp cân bằng lại phần dư thừa này để đạt Net Zero.

Để công cụ này thực sự hiệu quả và được quốc tế công nhận, Nhà nước cần hoàn thiện khung pháp lý dựa trên các trụ cột, bao gồm xác lập vị trí pháp lý, đưa tín chỉ removal vào chiến lược quốc gia và hệ thống kiểm kê khí nhà kính gắn với Đóng góp quốc gia NDC.

Chính sách cần phân định rõ ràng giữa tín chỉ giảm phát thải và tín chỉ loại bỏ carbon, đồng thời quy định các tiêu chí chất lượng cốt lõi như: tính bổ sung (không trùng lặp), tính lâu dài (lưu trữ bền vững) và không rò rỉ phát thải sang nơi khác. Nếu không có các tiêu chí này, tín chỉ sẽ không được thị trường quốc tế công nhận.

Một trụ cột quan trọng khác là hệ thống MRV (đo lường - báo cáo - thẩm định) chuẩn hóa. Đây chính là 'hạ tầng niềm tin' của thị trường carbon. Nhà nước cần ban hành hướng dẫn chuẩn về MRV, xây dựng cơ sở dữ liệu hệ số phát thải, thiết lập đường cơ sở phát thải và xác định thực hành phổ biến cho từng ngành. Việc chuẩn hóa giúp đảm bảo tín chỉ được tạo ra có thể so sánh, kiểm chứng và giao dịch trên thị trường quốc tế. Đặc biệt, cần làm rõ cơ chế sở hữu tín chỉ và phân bổ lợi ích, nhất là trong các dự án liên quan đến nông nghiệp, rừng và cộng đồng, nhằm tạo động lực dài hạn và tránh tranh chấp.

Ngoài ra, sự thành công của thị trường carbon phụ thuộc rất lớn vào khả năng thực thi của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần xây dựng hệ thống dữ liệu chuẩn theo các chứng chỉ quốc tế (như ISO 14064, GHG Protocol). Nếu không có dữ liệu chuẩn, doanh nghiệp không thể chứng minh được lượng carbon đã hấp thụ.

Tín chỉ carbon không phải nguồn thu cố định mà biến động theo giá thị trường và đi kèm nhiều chi phí vận hành (MRV, thẩm định), do đó, cần có mô hình tài chính chuyên nghiệp (NPV, IRR) để đánh giá hiệu quả đầu tư.

Điều quan trọng là doanh nghiệp phải nâng cao năng lực làm việc với các đơn vị thẩm định và các sàn giao dịch tín chỉ toàn cầu, đảm bảo tính minh bạch tuyệt đối.

Theo tôi, tín chỉ carbon removal là chìa khóa để hoàn thiện bài toán Net Zero, nơi việc giảm phát thải không còn đủ mà cần phải loại bỏ carbon khỏi khí quyển. Để khai thác hiệu quả công cụ này, cần một hệ thống chính sách đủ mạnh và một cộng đồng doanh nghiệp đủ năng lực. Khi đó, carbon không còn là chi phí phải giảm mà sẽ trở thành một loại tài sản có thể đo lường, chứng minh và thương mại hóa, mở ra không gian cạnh tranh mới cho doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường toàn cầu'.

Đón cơ hội từ thị trường carbon - Ảnh 10
Đón cơ hội từ thị trường carbon - Ảnh 11

'Theo xu hướng, hầu hết các quốc gia cũng như thương hiệu lớn đều đặt ra mục tiêu Net Zero. Trong lộ trình đến Net Zero, họ sẽ thực hiện rất nhiều hoạt động liên quan xuyên suốt chuỗi cung ứng. Điển hình như thị trường EU có Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) đang đặt ra yêu cầu nghiêm ngặt về phát thải carbon với hàng hóa, buộc doanh nghiệp phải mua chứng chỉ carbon hoặc chuyển đổi sản xuất xanh.

Việc thực hiện này sẽ bắt đầu dựa trên số liệu hoạt động của năm 2026. Do đó, các doanh nghiệp phải chuẩn bị rất rõ ràng để đến hết năm 2026 có thể minh bạch được lượng phát thải của các sản phẩm khi đi vào thị trường châu Âu.

Là một đơn vị xác minh, xác nhận kết quả kiểm kê phát thải khí nhà kính cũng như các chương trình tín dụng carbon, chúng tôi nhận thấy rất nhiều đơn vị tại Việt Nam đang muốn thực hiện, ví dụ như kiểm kê phát thải sản phẩm để đưa vào chuỗi cung ứng quốc tế.

Tuy nhiên, thực tế họ gặp những hạn chế về thông tin hệ số phát thải và dữ liệu hoạt động trong giai đoạn lịch sử trước đó chưa được ghi chép đầy đủ, rõ ràng. Đây là khó khăn lớn nhất khi muốn làm kiểm kê hay trung hòa carbon.

Ví dụ trong nông nghiệp, toàn bộ quá trình từ vườn ươm, làm đất, canh tác đến phân bón...đều phải được ghi nhận, có minh chứng rõ ràng về hóa đơn, chứng từ cũng như hệ số phát thải từ các nguồn được quốc tế công nhận.  Trong các ngành sản xuất như xi măng, sắt thép cũng vậy, nguồn nguyên liệu đầu vào của họ thường chưa có đủ cơ sở dữ liệu.

Tôi cho rằng với vị trí ở đầu nguồn của chuỗi cung ứng, là nhà cung cấp, nên doanh nghiệp Việt Nam khi xuất khẩu hàng hóa ra thị trường quốc tế cần phải có dữ liệu về phát thải của sản phẩm, quá trình sản xuất và nhà máy trước khi đưa hàng vào chuỗi cung ứng. Trong trường hợp dữ liệu chưa đầy đủ nhưng doanh nghiệp đã có định hướng rõ ràng thì có thể lựa chọn những 'năm cơ sở' là những năm có thông tin rõ ràng nhất, kết hợp với các nguồn hệ số phát thải được công nhận quốc tế để thực hiện.

Chúng tôi đã hỗ trợ một số đơn vị kiểm kê phát thải sản phẩm, trung hòa carbon, kiểm kê phát thải nhà máy,… tất cả đều phải truy xuất và có dữ liệu từ một quá trình dài. Việc này hoàn toàn khả thi nhưng cần có một kế hoạch rõ ràng về việc thu thập thông tin gì để phục vụ mục tiêu đó.

Việc giao dịch tín chỉ carbon để bù đắp lượng phát thải cũng rất quan trọng. Những doanh nghiệp Việt Nam có nguồn lực tạo ra tín chỉ carbon và giao dịch quốc tế nên tập trung phát triển các dự án này để đem lại lợi ích kinh tế'.

Đón cơ hội từ thị trường carbon - Ảnh 12
Đón cơ hội từ thị trường carbon - Ảnh 13

'Với vai trò là doanh nghiệp trong ngành công nghiệp năng lượng - lĩnh vực có phát thải CO₂ lớn, chúng tôi xác định việc tham gia vào các giải pháp giảm phát thải không chỉ là trách nhiệm mà là xu hướng tất yếu.

Trong khoảng 5 năm gần đây, chúng tôi cùng các đối tác Nhật Bản đã chủ động nghiên cứu các phương án thu hồi và chôn lấp CO₂. Trong đó trọng tâm nghiên cứu khu vực tiềm năng/tận dụng các mỏ dầu khí đã cạn kiệt cũng như hệ thống công trình ngoài khơi hiện hữu để lưu trữ CO₂ dưới lòng đất.

Đây là lợi thế rất lớn của ngành công nghiệp năng lượng Việt Nam so với nhiều ngành khác, bởi chúng ta có sẵn hạ tầng dầu khí và hiểu biết địa chất tích lũy qua nhiều năm. Nếu tận dụng tốt lợi thế này, chi phí đầu tư có thể giảm đáng kể so với việc xây dựng mới hoàn toàn.

Hiện nay, chúng tôi đang trong giai đoạn hoàn thiện các phương án nghiên cứu xác định vị trí tiềm năng thử nghiệm lưu giữ CO₂. Dự kiến đến cuối năm 2026 có thể hoàn thành thiết kế để tiến tới lập kế hoạch triển khai thử nghiệm. Trong 5-10 năm tới, chúng tôi đặt mục tiêu có thể thực hiện chôn lấp CO₂ ở quy mô thử nghiệm đến thương mại thực tế.

Qua tham khảo tài liệu từ Mỹ, Nhật Bản, Australia và các nước Đông Nam Á tiên phong như Indonesia, Malaysia, có thể thấy họ đã từng bước tiến hành chôn lấp CO₂ và tạo ra lợi nhuận. Bên cạnh đó, Chính phủ các nước này cũng có những chính sách thu hút nhà đầu tư, ví dụ như quy định mức giá cụ thể cho chôn lấp mỗi tấn CO₂. Điều này giúp thu hút nguồn vốn nước ngoài và mang lại lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp.

Chúng tôi kỳ vọng ngành dầu khí trong tương lai có thể tận dụng các mỏ cạn kiệt và hệ thống giàn khoan ngoài biển để thực hiện chôn lấp CO₂ tương tự như các nước tiên tiến. Điều này không chỉ giúp giảm phát thải cho ngành công nghiệp năng lượng mà còn mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Do đó, một chính sách thu hút đầu tư rõ ràng từ Chính phủ là hết sức cần thiết. Chúng tôi đang trình các cơ quan Chính phủ xem xét về cơ chế chính sách để đảm bảo mang lại lợi nhuận từ việc chôn lấp CO₂ này.

Về định lượng, dự án của chúng tôi đang phối hợp với đối tác Nhật Bản với kỳ vọng sẽ triển khai chôn lấp khoảng 4 triệu tấn CO₂/năm trong vòng 5 năm tới. Để thực hiện quy mô này, cần một hệ thống thử nghiệm với khoảng 5 giếng khoan.

Tại Mỹ, theo chính sách tín dụng thuế 45Q, chi phí chôn lấp dao động từ 80 USD đến hơn 100 USD/tấn. Khi doanh nghiệp chôn lấp được 1 tấn CO₂, họ sẽ nhận được mức lợi nhuận tương đương. Điều này giống như khai thác dầu khí: nếu khai thác một thùng dầu được 100 USD thì khi chôn ngược lại một tấn CO₂ cũng có thể thu về giá trị tương ứng. Đây là hướng đi tiềm năng và hiệu quả hơn nhiều so với các biện pháp như trồng rừng.

Khi thị trường carbon vận hành, chúng tôi kỳ vọng sẽ thu hút được nhiều nhà đầu tư; thậm chí có thể hướng tới chôn lấp CO₂  xuyên biên giới'.

Đón cơ hội từ thị trường carbon - Ảnh 14

-

]]>