Thành tựu 40 năm qua phản ánh sự chuyển dịch đúng hướng của cơ cấu kinh tế, công nghiệp chế biến, chế tạo trở thành một trong các động lực tăng trưởng chính
Từ nông nghiệp lạc hậu tiến đến nền kinh tế ngàn tỷ USD
Sau 40 năm thực hiện công cuộc Đổi mới (1986-2026), Việt Nam đã đạt được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử, từ quốc gia theo đuổi nền kinh tế bao cấp, khép kín với thế giới bên ngoài đến hội nhập sâu rộng vào kinh tế toàn cầu, với 17 hiệp định thương mại tự do (FTA).
Nhờ đó, Việt Nam đã chuyển mình từ nền kinh tế nghèo nàn thành một trong những quốc gia có quy mô thương mại lớn trên thế giới, với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt trên 930 tỷ USD vào năm 2025 và tiếp tục tăng trưởng 23% trong quý I/2026 với khoảng 249,50 tỷ USD.
Nền kinh tế không chỉ tăng trưởng về quy mô, mà chất lượng tăng trưởng liên tục được cải thiện. Cùng với đó, các lĩnh vực xã hội, phát triển con người đạt được nhiều tiến bộ quan trọng, Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam thuộc nhóm nước cao trên thế giới.
Khi bắt đầu Đổi mới năm 1986, Việt Nam là một trong những nền kinh tế nghèo nhất thế giới, với quy mô GDP chỉ khoảng 4,5 tỷ USD và GDP bình quân đầu người khoảng 74 USD. Đến năm 2025, quy mô nền kinh tế đã đạt 514 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người đạt 5.026 USD. Năm 2026, dự báo quy mô GDP đạt trên 560 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người đạt 5.400-5.500 USD.
Trong suốt 40 năm qua, tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 6,7%/năm, đưa Việt Nam vào nhóm các nền kinh tế tăng trưởng nhanh trên thế giới trong thời gian dài. Quy mô GDP của Việt Nam năm 2025 đã đứng ở vị trí thứ 32 toàn cầu. Với tốc độ tăng trưởng tối thiểu 10%, Việt Nam sớm trở thành nền kinh tế có quy mô ngàn tỷ USD, giữ vững ổn định vĩ mô và các cân đối lớn của nền kinh tế
Nhìn lại 40 năm qua, Việt Nam là một trong số ít quốc gia duy trì được tăng trưởng dương trong giai đoạn khó khăn như khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 hay Covid-19. Thậm chí, khó khăn, thách thức còn là cơ hội để Việt Nam tạo ra bước nhảy mới. Thành tựu này phản ánh sự chuyển dịch đúng hướng của cơ cấu kinh tế, từ mô hình tăng trưởng dựa vào khai thác tài nguyên và lao động giá rẻ sang mô hình dựa nhiều hơn vào công nghiệp chế biến, chế tạo, xuất khẩu và dịch vụ hiện đại.
'Khoán 10' mở đường cho công nghiệp hóa
Những chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước những năm đầu Đổi mới đã tác động tích cực tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Đặc biệt, chính sách đột phá về phát triển nông nghiệp, nông thôn - Nghị quyết 10-NQ/TW (ngày 5/4/1988) về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, được người dân yêu quý gọi nôm là 'Khoán 10'. Khoán 10 thừa nhận hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ, tạo động lực mạnh mẽ cho sản xuất nông nghiệp, giúp Việt Nam nhanh chóng chuyển từ thiếu lương thực sang xuất khẩu gạo.
Nghị quyết Đại hội lần thứ VI của Đảng đã chỉ rõ, cần tập trung thực hiện 3 chương trình kinh tế lớn, tạo tiền đề đẩy mạnh công nghiệp hóa ở giai đoạn tiếp theo; đưa nông nghiệp lên vị trí hàng đầu, nhấn mạnh vai trò to lớn của công nghiệp nhẹ, tiểu thủ công nghiệp; phát triển công nghiệp nặng một cách có chọn lọc.
Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 ra đời đã mở đường cho việc thu hút và sử dụng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài theo phương châm đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ kinh tế đối ngoại, góp phần thực hiện chủ trương phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế.
Sau thành công về nông nghiệp, năm 1994, Nghị quyết 07-NQ/HNTW về phát triển công nghiệp đến năm 2000 theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã chuyển đổi nền sản xuất từ trình độ nông nghiệp lạc hậu lên trình độ công nghiệp với công nghệ ngày càng tiên tiến, hiện đại. Trong giai đoạn 1991-2000, công nghiệp nước ta có bước đổi mới và phát triển, góp phần tạo nhịp độ tăng trưởng kinh tế tương đối khá.
Đặc biệt, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo sản xuất hàng tiêu dùng phục vụ nhu cầu trong nước và hàng xuất khẩu đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 10,59%/năm đã trở thành mũi nhọn, là động lực của nền kinh tế. Với sự nhập cuộc mạnh mẽ của doanh nghiệp tư nhân và đầu tư nước ngoài, các ngành điện tử, may mặc, giày dép, gỗ và sản phẩm gỗ... 'made in Vietnam' đã và đang chiếm lĩnh thị trường thế giới.
Nếu không có Khoán 10, thì dù chính sách, cơ chế công nghiệp hóa, hiện đại hóa hay đến đâu cũng không thể thành công, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo không thể phát triển được khi người dân còn đang đói. Vì thế, có thể nói, 'Khoán 10' mở đường cho công nghiệp hóa.
Tiến ra biển lớn
40 năm Đổi mới là một chặng đường đủ dài để khẳng định tính đúng đắn của đường lối phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước. Những thành tựu đạt được trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế không chỉ giúp nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế, mà còn tạo nền tảng quan trọng để đất nước tiếp tục bứt phá trong giai đoạn tới.
Giai đoạn 2001-2010 chứng kiến bước phát triển mạnh mẽ của kinh tế Việt Nam gắn với quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng. Đặc biệt, Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA) có hiệu lực (ngày 12/10/2001) không chỉ là cột mốc lịch sử bình thường hóa quan hệ kinh tế giữa 2 cựu thù, mà là chìa khóa để Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới - WTO (2007). BTA là nền tảng biến Hoa Kỳ trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của nước ta, với kim ngạch hàng năm chiếm 30-32% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam.
Thập niên đầu của thế kỷ XXI là một trong những giai đoạn quan trọng của lịch sử phát triển kinh tế Việt Nam, với bước phát triển vượt bậc, cơ cấu kinh tế từ thuần nông dần chuyển dịch thành cơ cấu công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp, hướng tới trở thành một nước công nghiệp. GDP tăng bình quân trên 7%/năm, đưa Việt Nam chính thức ra khỏi nhóm nước kém phát triển và gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình.
Giai đoạn 2011-2025, cùng với đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế, hệ thống luật pháp được hoàn thiện, tiếp cận thông lệ quốc tế và phù hợp xu hướng toàn cầu hóa trong bối cảnh cuộc cách mạng 4.0 làm thay đổi mạnh mẽ hoạt động sản xuất của nhân loại. Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư công, Luật Đất đai… được hoàn thiện trong thời kỳ này, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực (tỷ trọng nông nghiệp giảm, trong khi công nghiệp chế biến, chế tạo và dịch vụ trở thành động lực tăng trưởng chính),
Khu vực dịch vụ đã và đang chuyển dịch theo xu thế của thời đại, với sự phát triển nhanh của thương mại điện tử, logistics, Big Data, AI, IoT, tài chính số, công nghệ thông tin... Dịch vụ tài chính, ngân hàng, thương mại, du lịch, công nghệ thông tin, giáo dục và y tế phát triển nhanh chóng, phản ánh sự thay đổi nhu cầu của thị trường, sự phát triển của hạ tầng kỹ thuật và ứng dụng công nghệ mới. Khu vực dịch vụ ngày càng đóng góp nhiều hơn vào GDP (hiện chiếm 42-43%), phù hợp với sự phát triển của các nền kinh tế đi trước.
Khát vọng vươn lên
Báo cáo Chính trị Đại hội Đảng lần thứ XIV nhận định, những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử qua 40 năm Đổi mới là kết quả của cả quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục, là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta; khẳng định đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Nhân dân ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế thời đại. Tiềm lực, sức chống chịu và khả năng thích ứng của nền kinh tế được nâng lên, tạo đà tăng trưởng nhanh cho giai đoạn tiếp theo.
Đánh giá rất cao những kết quả đạt được qua 40 năm Đổi mới, nhưng Báo cáo Chính trị Đại hội Đảng lần thứ XIV cũng thẳng thắn nhìn nhận, tăng trưởng kinh tế vẫn dưới mức tiềm năng, chưa đạt mục tiêu đề ra, năng suất và sức cạnh tranh còn thấp…
40 năm Đổi mới là một chặng đường đủ dài để khẳng định tính đúng đắn của đường lối phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước. Những thành tựu đạt được trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế không chỉ giúp nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế, mà còn tạo nền tảng quan trọng để đất nước tiếp tục bứt phá trong giai đoạn tới. Đó là giai đoạn khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy mạnh mẽ giá trị văn hóa, con người Việt Nam và sức mạnh thời đại, huy động mọi nguồn lực, phát triển nhanh và bền vững trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, phấn đấu đến năm 2030 là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 2, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh, mục tiêu tăng trưởng kinh tế "hai con số" là đòi hỏi khách quan từ yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới và khát vọng vươn lên của cả dân tộc. Chúng ta không chấp nhận tăng trưởng thấp. Phải kiên trì thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, bền vững, thực chất. Chặng đường phía trước còn nhiều thách thức, nhưng với những bài học kinh nghiệm từ 40 năm Đổi mới, cùng với quyết tâm chính trị cao, tinh thần đổi mới sáng tạo và khát vọng phát triển, Việt Nam có đầy đủ cơ sở để tin tưởng vào một tương lai phát triển mạnh mẽ trong những thập niên tới.
