FTSE cập nhật bộ quy tắc phiên bản mới đối với TTCK Việt Nam
Vietnamfinance
· 12 giờ trước
FTSE cập nhật bộ quy tắc phiên bản mới đối với TTCK Việt NamHoàng Phan-23/08/2026 16:45 (GMT+7)(VNF) - FTSE Russell vừa nâng bộ quy tắc FTSE Vietnam Index Series lên phiên bản 4.0 trong tháng 8/2026, chỉ hơn một tháng sau lần sửa đổi lớn hồi đầu tháng 7.TIN LIÊN QUANVì sao BSR, DGC cùng GEE ra khỏi danh sách FTSE, còn KBC và KDH tụt hạng?23/08/2026 09:30Phiên bản 4.0 mới đượcFTSEcông bố dài 24 trang quy định cách xây dựng, lựa chọn và duy trì hệ thống chỉ số riêng của FTSE dành cho thị trường chứng khoán Việt Nam. Về các tiêu chí ảnh hưởng trực tiếp đến việc một cổ phiếu được đưa vào, bị loại hay thay đổi vị trí trong chỉ số, phiên bản 4.0 gần như giữ nguyên toàn bộ kiến trúc của phiên bản 3.9.Cuộc "đại tu" thực chất đã diễn ra từ phiên bản 3.9 của FTSECần nhìn ngược về phiên bản 3.8 tháng 8/2025 để thấy quy mô thay đổi mà FTSE đã thực hiện chỉ trong vòng một năm. Ở phiên bản cũ, hệ thống FTSE Vietnam chủ yếu gồm FTSE Vietnam Index và FTSE Vietnam All-Share Index. Chỉ số toàn thị trường khi đó được xác định từ nhóm doanh nghiệp nằm trong khoảng 90% vốn hóa lớn nhất của tập hợp cổ phiếu đủ điều kiện, còn phạm vi lựa chọn về cơ bản tập trung vào cổ phiếu niêm yết trên HoSE.Sang phiên bản 3.9 và tiếp tục được giữ nguyên trong 4.0, hệ thống được mở rộng thành bốn chỉ số. FTSE Vietnam All-Share Index bao gồm các doanh nghiệp vốn hóa lớn, vừa và nhỏ đáp ứng các điều kiện của FTSE. FTSE Vietnam All-Share FOL-adjusted Index, có thể hiểu là chỉ số toàn thị trường được điều chỉnh theo giới hạn sở hữu nước ngoài, tiếp tục sàng lọc các cổ phiếu theo khả năng tiếp cận thực tế của nhà đầu tư ngoại.FTSE Vietnam 30 Index gồm 30 doanh nghiệp Việt Nam có vốn hóa toàn phần lớn nhất, đồng thời phải nằm trong chỉ số toàn thị trường đã điều chỉnh theo giới hạn sở hữu nước ngoài và giao dịch trên HoSE. FTSE Vietnam Index lấy các cổ phiếu thuộc nhóm vốn hóa lớn của chỉ số toàn thị trường đã điều chỉnh theo giới hạn sở hữu nước ngoài, đồng thời phải đáp ứng yêu cầu về lượng cổ phiếu còn có thể được nhà đầu tư nước ngoài mua.Phạm vi lựa chọn cũng rộng hơn trước. Theo phiên bản 4.0, cổ phiếu phổ thông niêm yết đầy đủ trên HoSE hoặc HNX đều có thể được xem xét, trong khi cổ phiếu trên UPCoM không thuộc tập hợp đủ điều kiện.Các cổ phiếu bị sở giao dịch đưa vào diện cảnh báo, kiểm soát hoặc kiểm soát đặc biệt trên HoSE, hay cảnh báo và giám sát trên HNX, cũng không đủ điều kiện tham gia chỉ số. Nếu một cổ phiếu đang là thành phần chỉ số rơi vào các diện này, thông thường cổ phiếu sẽ bị loại ở kỳ rà soát tiếp theo và phải chờ ít nhất 12 tháng mới có thể được xem xét trở lại.Một trong những thay đổi sâu nhất từ phiên bản 3.8 sang 3.9 nằm ở cách FTSE đo thanh khoản. Trước đây, FTSE dựa nhiều vào giá trị giao dịch bình quân trong ba tháng và so sánh tương đối với thanh khoản của chỉ số toàn thị trường. Sang phương pháp mới, tổ chức này sử dụng trung vị khối lượng giao dịch hằng ngày theo từng tháng trong khoảng thời gian 12 tháng.Đối với cổ phiếu đang là thành phần chỉ số, trung vị khối lượng giao dịch hằng ngày phải đạt ít nhất 0,04% lượng cổ phiếu lưu hành sau khi điều chỉnh tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng trong tối thiểu 8/12 tháng.Với cổ phiếu chưa nằm trong chỉ số, yêu cầu cao hơn: tối thiểu 0,05% trong ít nhất 10/12 tháng. Cổ phiếu mới chưa có đủ một năm lịch sử giao dịch phải có tối thiểu 20 phiên trước ngày chốt dữ liệu và đáp ứng mức 0,05%.FTSE còn bổ sung một phép kiểm tra riêng về tình trạng giao dịch. Cổ phiếu không phát sinh giao dịch từ 60 phiên trở lên trong một năm sẽ không đủ điều kiện. Nếu bị loại vì tiêu chí này, cổ phiếu chỉ được xem xét trở lại sau 12 tháng.Một thay đổi quan trọng khác là cách FTSE phân chia nhóm vốn hóa. Toàn bộ cổ phiếu đủ điều kiện được xếp theo vốn hóa thị trường toàn phần từ lớn xuống nhỏ. Nhóm cổ phiếu cộng dồn chiếm 98% vốn hóa sẽ tạo thành tập hợp dùng để xây dựng chỉ số.Từ đây, FTSE sử dụng các "vùng đệm" để chia ba nhóm. Với nhóm vốn hóa lớn, ngưỡng để cổ phiếu mới được đưa vào là mốc cộng dồn 68% vốn hóa, trong khi cổ phiếu hiện hữu chỉ bị loại khi rơi qua mốc 72%.Với nhóm vốn hóa vừa, hai ngưỡng tương ứng là 86% và 92%. Với nhóm vốn hóa nhỏ, ngưỡng gia nhập là 98% và ngưỡng bị loại là 101%. Theo FTSE, mốc 101% của tập hợp chỉ số tương đương khoảng 99% vốn hóa của toàn bộ thị trường đủ điều kiện. Cách đặt hai ngưỡng khác nhau giúp giảm tình trạng cổ phiếu liên tục chuyển nhóm chỉ vì biến động vốn hóa quanh một ranh giới duy nhất.Phiên bản Ground Rules 4.0 dành cho FTSE Vietnam Index vừa ra mắt trong tháng 8. Ảnh: FTSEDư địa sở hữu nước ngoài vẫn là một trong những "cửa ải" lớn nhấtPhiên bản 4.0 tiếp tục cho thấy vốn hóa lớn chưa đủ để một cổ phiếu có mặt trong các chỉ số dành cho dòng vốn quốc tế. Trước hết, cổ phiếu có tỷ lệ tự do chuyển nhượng từ 5% trở xuống sẽ bị loại khỏi diện xem xét. FTSE cũng tính đến giới hạn sở hữu nước ngoài và lượng cổ phiếu còn có thể được nhà đầu tư ngoại mua.FTSE định nghĩa dư địa sở hữu nước ngoài là phần giới hạn sở hữu còn lại so với tổng giới hạn cho phép. Ví dụ, nếu một doanh nghiệp cho phép nhà đầu tư nước ngoài sở hữu tối đa 49%, trong khi khối ngoại đã nắm 39%, dư địa còn lại theo cách tính của FTSE tương đương khoảng 20,4% giới hạn cho phép.Riêng đối với FTSE Vietnam Index, FTSE còn tính trực tiếp lượng sở hữu nước ngoài còn khả dụng bằng giới hạn sở hữu nước ngoài trừ tỷ lệ đã được nhà đầu tư quốc tế nắm giữ. Nếu tỷ lệ còn khả dụng từ 2% trở xuống, cổ phiếu sẽ không đủ điều kiện tham gia chỉ số. Sau khi bị loại vì nguyên nhân này, cổ phiếu chỉ được xem xét trở lại khi lượng sở hữu nước ngoài còn khả dụng tăng lên trên 10%.Đối với FTSE Vietnam Index, một cổ phiếu mới còn phải có vốn hóa có thể đầu tư lớn hơn 1% tổng vốn hóa của chỉ số trước kỳ rà soát. Ngược lại, một thành phần hiện hữu sẽ bị loại nếu con số này giảm xuống dưới 0,5%. Mỗi cổ phiếu trong FTSE Vietnam Index được giới hạn tỷ trọng tối đa 15%, nhằm tránh việc chỉ số bị chi phối quá lớn bởi một số doanh nghiệp có quy mô vượt trội.FTSE Vietnam 30 vận hành theo cơ chế khác. Một doanh nghiệp có thể được đưa vào nếu vươn lên hạng 20 hoặc cao hơn xét theo vốn hóa toàn phần, trong khi một thành phần sẽ bị loại nếu tụt xuống hạng 41 hoặc thấp hơn. Chỉ số duy trì cố định 30 doanh nghiệp và giới hạn tỷ trọng mỗi cổ phiếu ở mức 10%.Lịch rà soát cũng đã được tái cấu trúc từ phiên bản 3.9 và tiếp tục giữ nguyên ở 4.0. Các đợt rà soát đầy đủ diễn ra hai lần mỗi năm vào tháng 3 và tháng 9. Tháng 6 và tháng 12 chỉ thực hiện kiểm tra bổ sung, chủ yếu để xem xét các cổ phiếu mới xuất hiện kể từ kỳ rà soát bán niên trước đó.Dữ liệu cho kỳ rà soát được chốt sau khi thị trường đóng cửa vào ngày thứ Hai cách ngày thay đổi chính thức bốn tuần. Các thay đổi được thực hiện sau khi thị trường đóng cửa vào ngày thứ Sáu thứ ba của tháng rà soát và có hiệu lực từ phiên giao dịch kế tiếp.FTSE còn thiết lập cơ chế gia nhập nhanh cho những doanh nghiệp mới niêm yết có quy mô đặc biệt lớn. Một cổ phiếu có tỷ lệ tự do chuyển nhượng trên 5% có thể đủ điều kiện nếu vốn hóa toàn phần đạt ít nhất 1,5 lần ngưỡng gia nhập nhóm vốn hóa lớn. Nếu đáp ứng các điều kiện liên quan, cổ phiếu có thể được đưa vào hệ thống chỉ số sau ngày giao dịch thứ năm.Việc hoàn thiện lại hệ thống FTSE Vietnam Index Series diễn ra ngay trước thời điểm Việt Nam bước sang vị thế mới trên bản đồ phân loại thị trường của FTSE. Tuy nhiên, cần phân biệt FTSE Vietnam Index Series với FTSE Global Equity Index Series – hệ thống chỉ số cổ phiếu toàn cầu của FTSE.Hai hệ thống có quan hệ về cách tiếp cận nhưng không phải một. Không thể lấy riêng Bộ quy tắc FTSE Vietnam phiên bản 4.0 để kết luận trực tiếp một cổ phiếu Việt Nam sẽ được xếp vào nhóm vốn hóa lớn, vừa hay nhỏ trong các chỉ số toàn cầu sau nâng hạng.Vì sao BSR, DGC cùng GEE ra khỏi danh sách FTSE, còn KBC và KDH tụt hạng?Vì sao BSR, DGC cùng GEE ra khỏi danh sách FTSE, còn KBC và KDH tụt hạng?Tài chính(VNF) - Từ danh sách sơ bộ 23 cổ phiếu Việt Nam công bố hồi tháng 4 đến kết quả rà soát ngày 21/8, FTSE Russell đã loại BSR, DGC, GEE, KBC và KDH khỏi nhóm FTSE Global All Cap.