Tin tức thị trường

Hợp tác nâng cao năng lực y tế trong phòng ngừa, phát hiện và điều trị bệnh mạn tính

Vneconomy
· 19/08/2026

Sự gia tăng của các bệnh không lây nhiễm, đặc biệt là các bệnh hô hấp mạn tính đặt ra yêu cầu tăng cường năng lực phòng ngừa, phát hiện sớm, chẩn đoán và điều trị. Cùng với định hướng lấy phòng bệnh làm trọng tâm, các chương trình hợp tác chuyên môn đang được triển khai...

Ảnh minh họa: Pharmacity
Ảnh minh họa: Pharmacity

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), các bệnh không lây nhiễm như tim mạch, ung thư, bệnh hô hấp mạn tính và đái tháo đường hiện chiếm khoảng 80% số ca tử vong tại Việt Nam.

Trong nhóm bệnh này, bệnh tim mạch là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu. Theo Ước tính Y tế Toàn cầu năm 2021 của WHO, đột quỵ có tỷ suất tử vong 167,6 ca/100.000 dân, tiếp theo là bệnh tim thiếu máu cục bộ với 65,6 ca/100.000 dân.

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) cũng là một vấn đề y tế đáng kể. Theo WHO, tỷ lệ mắc COPD ở nam và nữ từ 40 tuổi trở lên lần lượt là 7,1% và 1,9%. Dữ liệu WHO năm 2021 ghi nhận tỷ suất tử vong do COPD tại Việt Nam khoảng 36 ca/100.000 dân. Đối với ung thư, theo GLOBOCAN 2024, mỗi năm Việt Nam ghi nhận hơn 177.404 ca mắc mới và hơn 111.015 ca tử vong...

Theo một nghiên cứu đăng trên Nature Communications năm 2026, bệnh truyền nhiễm và các bệnh không lây nhiễm có mối liên hệ đáng lưu ý, trong đó người có bệnh nền có thể đối mặt với nguy cơ biến chứng cao hơn khi mắc bệnh truyền nhiễm.

Đơn cử, theo một nghiên cứu về người có bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) được công bố trên PubMed, nguy cơ mắc viêm phổi do phế cầu ở người bệnh COPD trên 60 tuổi cao khoảng 4 lần. Trong khi đó, một tổng quan hệ thống công bố năm 2025 ghi nhận nguy cơ nhập viện liên quan đến RSV ở người bệnh COPD trên 50 tuổi cao khoảng 9,6 - 9,7 lần.

Bên cạnh đó, người mắc các bệnh lý nền cũng có nguy cơ đối mặt với các nhiễm nấm nghiêm trọng, trong đó một số thể nhiễm nấm xâm lấn có ý nghĩa lâm sàng lớn do nguy cơ tử vong cao. Tại Việt Nam, nghiên cứu đăng trên Mycoses ước tính tỷ lệ mắc nhiễm nấm huyết do Candida khoảng 12 ca/100.000 dân mỗi năm và nhiễm Aspergillus xâm lấn khoảng 24 ca/100.000 dân.

Có thể thấy, chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và quản lý bệnh ở nhóm nguy cơ cao có vai trò quan trọng trong hạn chế biến chứng, nâng cao hiệu quả điều trị, đồng thời đặt ra yêu cầu củng cố năng lực y tế.

Đồng thời, nâng cao hiểu biết để người dân chủ động nhận diện nguy cơ, phát hiện sớm và tiếp cận tư vấn y khoa phù hợp cũng góp phần nâng cao hiệu quả phòng bệnh và chăm sóc sức khỏe lâu dài.

PGS. TS. BS. Trần Văn Ngọc, Chủ tịch Hội Hô hấp TP. Hồ Chí Minh. Ảnh: Pfizer Việt Nam.
PGS. TS. BS. Trần Văn Ngọc, Chủ tịch Hội Hô hấp TP. Hồ Chí Minh. Ảnh: Pfizer Việt Nam.

PGS. TS. BS. Trần Văn Ngọc, Chủ tịch Hội Hô hấp TP. Hồ Chí Minh, cho biết thực tế lâm sàng cho thấy người bệnh COPD thường đến cơ sở y tế ở giai đoạn muộn, khi tình trạng tắc nghẽn đã nặng, khiến việc điều trị khó khăn, tốn kém và tỷ lệ tử vong cao.

BS. Trần Văn Ngọc cho biết COPD không chỉ gây tổn thương hô hấp mà còn liên quan đến các biến chứng ngoài phổi, trong đó có nguy cơ mất trí nhớ; khoảng 32% người bệnh có dấu hiệu suy giảm nhận thức và tỷ lệ này có thể lên tới 56% khi được đánh giá chuyên sâu. Điều đó cho thấy phát hiện sớm, quản lý bệnh và dự phòng biến chứng cần được ưu tiên hơn.

Từ yêu cầu phát hiện sớm, quản lý bệnh và dự phòng biến chứng, định hướng lấy phòng bệnh làm trọng tâm cũng ngày càng được thể hiện rõ trong chính sách y tế.

Luật Phòng bệnh số 114/2025/QH15 được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 ngày 10/12/2025 và có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân, từ tập trung chữa bệnh sang chủ động phòng bệnh, lấy người dân làm trung tâm. Theo đó, hệ thống y tế từng bước chuyển từ trọng tâm điều trị sang tăng cường dự phòng, phát hiện sớm và kiểm soát các yếu tố nguy cơ ngay tại cộng đồng.

Định hướng này được đặt trong mạch chính sách xuyên suốt trong Chiến lược quốc gia bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Trong bối cảnh đó, mới đây Công ty TNHH Pfizer Việt Nam lần lượt ký kết hai Biên bản ghi nhớ (MOU) hợp tác chiến lược có thời hạn ba năm với Hội Hô hấp TP. Hồ Chí Minh và Bệnh viện Nhân dân Gia Định.

Hai chương trình cùng hướng tới nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ nhân viên y tế, tăng cường chất lượng chẩn đoán, dự phòng và điều trị, đồng thời thúc đẩy các hoạt động giáo dục sức khỏe cộng đồng phi thương mại.

Hợp tác với Hội Hô hấp TP. Hồ Chí Minh tập trung vào các hoạt động khoa học và đào tạo trong lĩnh vực hấp, cập nhật hướng dẫn chuyên môn, nâng cao năng lực chẩn đoán, dự phòng và quản lý bệnh hô hấp, chuẩn hóa thực hành lâm sàng, đồng thời tăng cường tư vấn dự phòng theo từng nhóm nguy cơ.

Pfizer Việt Nam ký kết hai Biên bản ghi nhớ (MOU) hợp tác chiến lược với Bệnh viện Nhân dân Gia Định. Ảnh: Pfizer Việt Nam.
Pfizer Việt Nam ký kết hai Biên bản ghi nhớ (MOU) hợp tác chiến lược với Bệnh viện Nhân dân Gia Định. Ảnh: Pfizer Việt Nam.

Các nội dung đào tạo tập trung vào chẩn đoán, điều trị và quản lý những bệnh hô hấp mạn tính phổ biến như hen phế quản và COPD, cũng như quản lý đợt cấp thông qua các ca lâm sàng thực tế. 

Theo PGS. TS. BS. Nguyễn Hoàng Hải, Giám đốc Bệnh viện Nhân dân Gia Định, chương trình hợp tác được kỳ vọng góp phần tăng cường năng lực chuyên môn của đội ngũ nhân viên y tế, đồng thời lan tỏa các thực hành tốt đến mạng lưới bệnh viện tuyến dưới.

Ông Mark Kuo, Tổng Giám đốc Pfizer Việt Nam, cho biết xây dựng hệ thống y tế vững mạnh cần sự phối hợp giữa doanh nghiệp, tổ chức chuyên môn và cơ sở y tế. Hai Biên bản ghi nhớ tập trung vào đào tạo y khoa liên tục, cập nhật kiến thức chẩn đoán, dự phòng, điều trị và nâng cao hiểu biết sức khỏe cộng đồng dựa trên bằng chứng khoa học. Qua đó, các chương trình hợp tác góp phần nâng cao năng lực đội ngũ y tế và chất lượng chăm sóc sức khỏe.