Kịch bản biến đổi khí hậu 2025: Đánh giá tác động đến sản xuất lúa, sức khỏe và công trình

Kịch bản biến đổi khí hậu cho Việt Nam (cập nhật năm 2025) vừa công bố đưa ra 3 kịch bản tương ứng với các mức phát thải và phát triển kinh tế xã hội khác nhau. Điểm đáng chú ý, kịch bản đã bước đầu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu với một số ngành/lĩnh vực nhạy cảm của Việt Nam như sản xuất lúa; sức khỏe cộng đồng; đô thị và công trình…
Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển cho biết kịch bản biến đổi khí hậu phiên bản năm 2025 được cập nhật theo các kịch bản chia sẻ kinh tế xã hội (SSP) do Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC) đưa ra. Đây là tập hợp các giả định khoa học về phát triển kinh tế, gia tăng dân số, sử dụng năng lượng, chuyển dịch công nghệ và ban hành chính sách khí hậu trong tương lai.
3 KỊCH BẢN VÀ CÁC NHẬN ĐỊNH VỀ BIỂU HIỆN, RỦI RO KHÍ HẬU
Một trong những điểm đổi mới quan trọng nhất của kịch bản là việc chuyển từ cách tiếp cận dựa trên các kịch bản RCP sang sử dụng các kịch bản SSP của thế hệ CMIP6. Ba nhóm kịch bản được lựa chọn gồm kịch bản thấp, kịch bản trung bình và kịch bản cao, phản ánh các mức phát thải và phát triển kinh tế xã hội khác nhau.
Cách tiếp cận này cho phép xem xét biến đổi khí hậu không chỉ dưới góc độ thay đổi nồng độ khí nhà kính mà còn trong mối quan hệ với những giả định về phát triển kinh tế xã hội, công nghệ, năng lượng và chính sách khí hậu. Đây là cơ sở quan trọng để đánh giá rủi ro trong những điều kiện phát triển khác nhau.
Cùng với việc lựa chọn 3 kịch bản phát triển kinh tế xã hội, các nhà khoa học còn dựa vào các ngưỡng ấm lên toàn cầu (GWLs) so với thời kỳ tiền công nghiệp để xác định các rủi ro về khí hậu.
Tương ứng với 3 kịch bản phát triển kinh tế xã hội cũng như các ngưỡng ấm lên toàn cầu, các nhà khoa học đã đưa ra các nhận định về biểu hiện của biến đổi khí hậu, thể hiện cụ thể ở biến đổi nhiệt độ, lượng mưa, bão, nước biển dâng.
Kịch bản ứng với các ngưỡng nóng lên toàn cầu là để cung cấp cơ sở khoa học cho việc đánh giá rủi ro và xác định mức độ ưu tiên thích ứng theo mục tiêu toàn cầu, mà không phụ thuộc vào các mốc thời gian. Theo IPCC, với mỗi độ nóng lên toàn cầu tăng lên, các thay đổi về nhiệt độ trung bình và lượng mưa ở quy mô khu vực lại càng gia tăng. Những thay đổi dự kiến về các hiện tượng cực đoan sẽ gia tăng cả về tần suất lẫn cường độ theo từng mức tăng thêm của tình trạng nóng lên toàn cầu.
Nhiệt độ tối cao có xu thế gia tăng trên toàn lãnh thổ Việt Nam và tăng tỷ lệ thuận với các ngưỡng nóng lên toàn cầu. Ở ngưỡng nóng lên toàn cầu 1,5 độ C, mức tăng phổ biến từ 1-1,5 độ C. Nhưng khi nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng lên 4 độ C, mức tăng có thể đạt 3-4 độ C.
Nhiệt độ tối thấp có tốc độ gia tăng mạnh mẽ và cực đoan hơn so với nhiệt độ tối cao, đặc biệt rõ rệt tại các vùng khí hậu phía Bắc. Khi nhiệt độ toàn cầu tăng 3°C và 4°C, nhiệt độ tối thấp tại các tỉnh miền núi phía Bắc ghi nhận mức tăng mạnh nhất, có thể vượt ngưỡng 5°C.
Số ngày nắng nóng (trên 35 độ C) tăng mạnh với mức tăng 10-30 ngày ở ngưỡng 1,5 độ C, và tăng đến 30-50 ngày với ngưỡng 3-4 độ C, vượt 50 ngày/năm tại nhiều khu vực Trung Bộ và Nam Bộ. Ngược lại, rét đậm, rét hại giảm mạnh. Số ngày rét đậm, rét hại tại Bắc Bộ giảm 20-30 ngày ở ngưỡng nóng lên 3 độ C; và giảm 30-40 ngày ở ngưỡng nóng lên 4 độ C.
Với các ngưỡng nóng lên toàn cầu từ 1,5-4 độ C, hạn hán có xu hướng gia tăng đáng kể tại Bắc Bộ cả về tần suất và cường độ, trong khi khu vực phía Nam có xu thế giảm nhẹ, làm nổi bật sự phân hóa không gian của tác động biến đổi khí hậu đối với hạn hán ở Việt Nam.
Ở ngưỡng nhiệt toàn cầu từ 4°C, rủi ro bão mạnh tăng rõ rệt, khả năng xảy ra đối với siêu bão có cường độ tương đương bão Yagi (tốc độ gió 58 m/s), tăng gần 3 lần.
Xác suất xuất hiện tại miền Bắc tăng từ 2,6%/năm (chu kỳ lặp 38 năm) lên 7,7%/năm (chu kỳ lặp 13 năm), tại miền Trung, tăng từ 2,0%/năm (chu kỳ lặp 50 năm) lên 6,3%/năm (chu kỳ lặp 16 năm) và tại miền Nam, tăng từ 0,25%/năm (chu kỳ lặp 394 năm) lên 0,75%/năm (chu kỳ lặp 133 năm).
Về lượng mưa, kịch bản lượng mưa năm phân hóa mạnh theo mùa và không gian, vào mùa xuân, lượng mưa có xu thế giảm trên phần lớn các khu vực của cả nước. Khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ và Cao nguyên Trung Bộ giảm khoảng 20-30% so với thời kỳ cơ sở. Vào mùa đông, lượng mưa có xu thế gia tăng trên hầu hết lãnh thổ Việt Nam với mức tăng phổ biến 20–60%, ngoại trừ khu vực Tây Bắc. Vào mùa hè và mùa thu, lượng mưa có xu thế tăng rõ nét tại khu vực Bắc Bộ.
Mưa cực đoan tăng, lượng mưa cực đại một ngày và năm ngày tăng khoảng 30-40% tại Bắc Bộ và Nam Bộ; số ngày mưa lớn tăng mạnh, đặc biệt ở Nam Bộ; số ngày mưa rất lớn (trên 100 mm/ngày) tăng mạnh 80-100% (Kịch bản cao) tại một số khu vực Bắc Bộ, Cao nguyên Trung Bộ và Nam Bộ.
Đến năm 2100, mực nước biển dâng trung bình toàn Biển Đông được dự tính khoảng 46,1 cm theo kịch bản thấp đến 63,7 cm theo kịch bản cao; cận trên của khoảng bất định theo kịch bản cao có thể đạt 84,2 cm. Đối với toàn dải ven biển Việt Nam, theo kịch bản cao, mức dâng trung bình vào cuối thế kỷ khoảng 61,9 cm, với cận trên lên tới 82,0 cm. Bản đồ nguy cơ ngập cho thấy sự phân hóa rất rõ giữa các vùng, trong đó đồng bằng sông Cửu Long có nguy cơ ngập cao nhất.
BƯỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN CÁC LĨNH VỰC NHẠY CẢM
Điểm mới đáng chú ý là kịch bản đã thực hiện một số nghiên cứu điển hình đối với sản xuất lúa, sức khỏe cộng đồng và kết cấu công trình. Kết quả cho thấy các rủi ro khí hậu có xu hướng gia tăng theo mức độ nóng lên toàn cầu và trở nên rõ rệt hơn trong nửa cuối thế kỷ 21.
Cụ thể, trong sản xuất lúa, năng suất lúa tại đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long có xu hướng suy giảm theo các ngưỡng nóng lên toàn cầu. Tác động trở nên rõ rệt từ ngưỡng nóng lên 2°C trở lên, trong đó đồng bằng sông Cửu Long là khu vực nhạy cảm hơn với mức giảm năng suất có thể vượt 10% ở một số vụ sản xuất khi nhiệt độ toàn cầu tăng 4°C.
Về sức khỏe cộng đồng, theo kịch bản, tần suất các điều kiện nhiệt- ẩm nguy hiểm đối với sức khỏe con người (WBGT > 32°C) được dự tính gia tăng mạnh tại Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh, đặc biệt tại khu vực nội đô. Đồng thời, nguy cơ sốt xuất huyết có xu hướng gia tăng cùng với sự gia tăng nhiệt độ và các điều kiện khí hậu thuận lợi cho véc-tơ truyền bệnh.
Đối với kết cấu công trình, nhiệt độ cực đoan, các đợt nắng nóng kéo dài và sự thay đổi của gió cực trị có thể làm gia tăng tác động bất lợi đến độ bền và tuổi thọ công trình, đặc biệt đối với hạ tầng giao thông và các công trình đô thị.
Theo Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển, kịch bản không phải là các dự báo, mà là cơ sở khoa học của khí hậu tương lai, để hỗ trợ đánh giá rủi ro theo các kịch bản với các giả thiết khác nhau về sử dụng nhiên liệu tương ứng với các kịch bản phát triển trong tương lai, cùng với những biện pháp kiềm chế.
Do vậy, không có kịch bản tốt nhất mà chỉ là kịch bản hợp lý nhất ứng với các thông tin về khí hậu, phát thải khí nhà kính và phát triển kinh tế xã hội cập nhật đến thời điểm xem xét sử dụng kịch bản, để làm đầu vào cho đánh giá rủi ro, nguy cơ và tác động của biến đổi khí hậu cùng với các thông tin liên ngành khác cho xây dựng các giải pháp ứng phó phù hợp cho mỗi ngành, lĩnh vực, địa phương.
Với những điểm mới trên, kịch bản năm 2025 cung cấp cơ sở khoa học quan trọng để các Bộ, ngành, địa phương, tổ chức và doanh nghiệp chủ động hơn trong đánh giá rủi ro, quy hoạch phát triển, đầu tư hạ tầng và xây dựng các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu trong thế kỷ XXI.
Kịch bản khuyến nghị các Bộ, ngành, địa phương và đơn vị liên quan nghiên cứu, xem xét tình huống biến đổi khí hậu cực đoan, bất lợi nhất trong quá trình xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án đầu tư và phương án ứng phó với biến đổi khí hậu; đặc biệt đối với hệ thống kết cấu hạ tầng trọng yếu, công trình phòng chống thiên tai, hồ, đập, đê điều, giao thông, năng lượng và hệ thống cấp, thoát nước. Cùng với đó lồng ghép kịch bản vào công tác đánh giá rủi ro, quy hoạch, đầu tư, cấp phép, và xây dựng giải pháp thích ứng cho các hoạt động kinh tế và hạ tầng số...
Kịch bản cũng khuyến nghị sử dụng kết quả kịch bản và nguy cơ ngập do nước biển dâng làm căn cứ khoa học để tiếp tục tính toán chi tiết cho việc xây dựng phương án bố trí, ổn định dân cư tại vùng có nguy cơ thiên tai; quản lý phát triển đô thị, hạ tầng kỹ thuật, kết cấu giao thông, cũng như rà soát, cập nhật các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật chuyên ngành liên quan, phục vụ phát triển nhanh, bền vững, thịnh vượng và an toàn.