Lãi suất cho vay tiếp đà giảm sâu: Khách cá nhân hạ tới 2,5%, DN giảm sâu nhất 3,25%

Khách hàng cá nhân được giảm lãi vay đến 2,5%/năm
Thực hiện chủ trương của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) về giảm mặt bằng lãi suất, nhiều ngân hàng thương mại đang triển khai các chương trình tín dụng ưu đãi dành cho người dân và hộ kinh doanh. Nếu trước đây các gói giảm lãi suất chủ yếu tập trung vào doanh nghiệp và lĩnh vực ưu tiên, các chương trình gần đây đã mở rộng sang nhiều nhóm khách hàng cá nhân.
Sacombank vừa công bố gói tín dụng ưu đãi quy mô 20.000 tỷ đồng dành cho khách hàng cá nhân, với mức giảm lãi suất từ 1,5 đến 2%/năm. Trong đó, 10.000 tỷ đồng được dành cho khách hàng vay vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh, bao gồm hộ kinh doanh, với lãi suất thấp hơn tối thiểu 1,5%/năm so với khung lãi suất cho vay hiện hành.
Nguồn vốn ưu đãi có thể được sử dụng để bổ sung vốn lưu động, nhập hàng hóa, nguyên vật liệu và mở rộng hoạt động kinh doanh. Ngân hàng cũng dành thêm 10.000 tỷ đồng để điều chỉnh giảm lãi suất từ 1,5 đến 2%/năm cho khách hàng hiện hữu đủ điều kiện, tùy thuộc nhóm khách hàng và khoản vay.

PVcomBank cũng triển khai chương trình tín dụng dành cho cá nhân kinh doanh, hộ kinh doanh và doanh nghiệp siêu nhỏ, với mức giảm lãi suất lên tới 2,5%/năm so với thông thường. Lãi suất ưu đãi khởi điểm từ 6,29%/năm.
Chương trình hướng tới khách hàng thuộc các lĩnh vực ưu tiên hoặc ngành nghề đặc thù như nông nghiệp, nông thôn, làng nghề truyền thống, du lịch, dịch vụ lưu trú, trồng cây ăn quả, rau xanh, tạm trữ lúa gạo và tái canh cà phê. Khách hàng được tiếp cận các phương án vay có kỳ hạn linh hoạt, đi kèm hỗ trợ về thủ tục hồ sơ. Chương trình được triển khai từ ngày 20/10/2026 đến hết ngày 31/1/2027.
Ở nhóm ngân hàng nước ngoài, Shinhan Bank Việt Nam cũng điều chỉnh giảm lãi suất đối với một số sản phẩm tín dụng cá nhân từ ngày 20/10. Biên độ lãi suất khoản vay mua nhà được giảm 0,65 điểm phần trăm, từ mức lãi suất tham chiếu cộng 0,35%/năm xuống thấp hơn lãi suất tham chiếu 0,3%/năm. Biên độ lãi suất cho vay mua ô tô giảm 0,6 điểm phần trăm, còn khoản vay tiêu dùng có tài sản bảo đảm giảm 0,3 điểm phần trăm.
Theo ngân hàng, lãi suất thả nổi đối với các khoản vay này hiện dao động khoảng 8,99 đến 9,59%/năm, được điều chỉnh theo chu kỳ 3 tháng. Mức lãi suất thực tế phụ thuộc vào lãi suất tham chiếu, biên độ áp dụng và điều kiện của từng khoản vay.
Đối với khách hàng vay vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh, hộ kinh doanh và các cơ sở kinh doanh quy mô nhỏ, Shinhan Bank Việt Nam cũng giảm 1,5%/năm biên độ lãi suất thả nổi.
Các chương trình trên cho thấy chính sách giảm lãi suất đang tiếp cận rộng hơn tới người dân, không chỉ giới hạn ở các khoản vay doanh nghiệp. Tuy nhiên, mức ưu đãi cụ thể vẫn phụ thuộc vào điều kiện của từng ngân hàng, mục đích sử dụng vốn, hồ sơ tín dụng và khả năng trả nợ của khách hàng.
Doanh nghiệp tiếp tục được hỗ trợ, mức giảm cao nhất 3,25%/năm
Trước khi các chương trình dành cho khách hàng cá nhân được mở rộng, nhiều ngân hàng đã công bố giảm lãi suất cho vay đối với doanh nghiệp nhằm hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh và thúc đẩy khả năng tiếp cận vốn.
SHB triển khai gói tín dụng dành cho khách hàng sản xuất, kinh doanh, bao gồm hộ kinh doanh và doanh nghiệp, với lãi suất từ 5%/năm, giảm từ 1,5 đến 2%/năm. Agribank giảm lãi suất cho vay đến 2%/năm, đồng thời duy trì gói tín dụng ưu đãi quy mô 70.000 tỷ đồng.
BIDV triển khai gói tín dụng 100.000 tỷ đồng với lãi suất từ 6%/năm, thấp hơn tối đa 2 điểm phần trăm mỗi năm so với mức thông thường. Vietcombank cũng thực hiện chương trình giảm lãi suất từ 1,5 đến 2%/năm theo định hướng của NHNN. Đối với một số lĩnh vực, mức giảm lãi suất cho vay ngắn hạn lên tới 3%/năm so với mức hiện hành.
Sacombank trước đó đã triển khai gói tín dụng 40.000 tỷ đồng dành cho doanh nghiệp, với mức giảm lãi suất 2%/năm. Nam A Bank áp dụng chương trình tín dụng ưu đãi cho doanh nghiệp thuộc lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và các ngành ưu tiên, với mức giảm từ 1,5 đến 2%/năm tùy kỳ hạn và đối tượng khách hàng.
Đáng chú ý, một số nhóm doanh nghiệp được hưởng mức ưu đãi cao hơn. Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, thủy sản, rau củ và thực phẩm thiết yếu được giảm lãi suất tới 3%/năm. Doanh nghiệp nhỏ và vừa được hưởng mức giảm từ 1,5 đến 3%/năm. Với các doanh nghiệp đầu tư, hoạt động tại khu công nghiệp và những lĩnh vực có vai trò quan trọng đối với sản xuất, công nghiệp và xuất khẩu, mức giảm có thể lên tới 3,25%/năm theo chương trình của ngân hàng.
VIB cũng công bố gói tín dụng ưu đãi quy mô 15.000 tỷ đồng dành cho doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực ưu tiên, với lãi suất giảm đến 1,5%/năm. Đối tượng được hỗ trợ gồm doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, sản xuất vật liệu, linh kiện, phụ tùng, phát triển hạ tầng, đầu tư công, năng lượng tái tạo và xuất khẩu.
Tổng Giám đốc VIB Hàn Ngọc Vũ cho rằng việc giảm chi phí vốn cần đi cùng khả năng tiếp cận nguồn vốn và các giải pháp vay phù hợp với từng khách hàng. Theo ông, ngân hàng sẽ tiếp tục rà soát các chương trình ưu đãi, đồng thời gắn hoạt động cấp tín dụng với hiệu quả sử dụng vốn và khả năng trả nợ.
Ở chiều huy động, gần 20 ngân hàng đã thông báo giảm lãi suất tiền gửi, mức giảm phổ biến khoảng 0,5 điểm phần trăm/năm, chủ yếu áp dụng với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên. Việc giảm lãi suất huy động được kỳ vọng giúp các ngân hàng có thêm dư địa hạ chi phí vốn, từ đó hỗ trợ giảm lãi suất cho vay.
Áp lực chi phí vốn và lợi nhuận của ngân hàng
Dù các chương trình giảm lãi suất mang lại lợi ích cho người vay, khả năng duy trì ưu đãi giữa các ngân hàng không giống nhau. Một số tổ chức tín dụng có lợi thế về nguồn vốn giá rẻ và chất lượng tài sản tốt sẽ có nhiều dư địa điều chỉnh lãi suất hơn. Ngược lại, những ngân hàng phải huy động vốn với chi phí cao hoặc có bộ đệm rủi ro hạn chế sẽ chịu sức ép lớn hơn khi giảm lãi vay.

Theo số liệu được công bố, đến cuối tháng 9/2026, tín dụng toàn hệ thống tổ chức tín dụng tăng 11,6%, trong khi huy động vốn tăng 9,8%. Lãi suất tiền gửi mới bình quân lên tới 6,38%/năm, còn lãi suất cho vay bình quân trong tháng 8 dao động từ 8,4 đến 10,7%/năm.
TS Lê Hồng Hạnh, giảng viên ngành Tài chính tại Đại học RMIT Việt Nam, nhận định bản chất của việc giảm lãi suất là bài toán truyền dẫn từ chi phí vốn sang lãi suất cho vay. Khi chi phí huy động chưa giảm tương ứng nhưng ngân hàng vẫn điều chỉnh lãi vay, mức độ ảnh hưởng đến lợi nhuận sẽ phụ thuộc vào cấu trúc nguồn vốn và khả năng kiểm soát rủi ro của từng đơn vị.
Theo chuyên gia, việc giảm lãi suất cho vay từ 1,5 đến 2 điểm phần trăm có thể khiến biên lợi nhuận ngân hàng bị thu hẹp, đặc biệt với những tổ chức tín dụng có biên lãi ròng thấp hoặc phụ thuộc nhiều vào tiền gửi có kỳ hạn.
Những ngân hàng có tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) cao thường có lợi thế về chi phí vốn. Số liệu được TS Hạnh dẫn cho thấy Techcombank, MB và Vietcombank có tỷ lệ CASA lần lượt là 35%, 34,4% và 32,8%, cao hơn mức bình quân ngành 14,7%. Vietcombank cũng duy trì tỷ lệ nợ xấu 0,61% và tỷ lệ bao phủ nợ xấu 279%, tạo bộ đệm đáng kể để kiểm soát rủi ro tín dụng.
Ngược lại, các ngân hàng có biên lãi mỏng, nợ xấu cao hoặc tỷ lệ bao phủ nợ xấu thấp sẽ gặp nhiều khó khăn hơn khi tiếp tục giảm lãi suất. Với những ngân hàng có lãi suất cho vay bình quân đã ở mức thấp, các đợt giảm tiếp theo nhiều khả năng tập trung vào những gói tín dụng ưu tiên thay vì áp dụng đồng loạt trên toàn bộ danh mục cho vay.
TS Lê Bá Chí Nhân cho rằng muốn hạ nhiệt lãi suất một cách bền vững, không thể chỉ yêu cầu ngân hàng giảm lãi vay mà cần đồng thời xử lý chi phí vốn, thanh khoản và rủi ro tín dụng của toàn hệ thống. Việc điều hành cũng phải bảo đảm cân đối với mục tiêu kiểm soát tỷ giá, lạm phát và an toàn hệ thống ngân hàng.
Theo ông Nhân, phát triển thị trường vốn sẽ giúp doanh nghiệp có thêm lựa chọn huy động từ trái phiếu, cổ phiếu, quỹ đầu tư và các định chế tài chính dài hạn, qua đó giảm áp lực cung ứng vốn của hệ thống ngân hàng. Bên cạnh đó, cần tháo gỡ các vướng mắc về đất đai, quy hoạch, thủ tục đầu tư và pháp lý để dự án sớm được triển khai, dòng tiền quay vòng nhanh hơn và khả năng trả nợ được cải thiện.
Các chuyên gia cho rằng giảm lãi suất chỉ có thể duy trì lâu dài khi đi cùng việc nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng, cải thiện sức khỏe doanh nghiệp và khơi thông khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế. Khi rủi ro tín dụng giảm, nguồn vốn được sử dụng hiệu quả hơn và thị trường vốn phát triển, các ngân hàng sẽ có thêm điều kiện hạ lãi suất mà không tạo áp lực quá lớn lên lợi nhuận và an toàn hệ thống.