Lãi suất tiết kiệm ngân hàng nào cao nhất tháng 3/2026?

Khảo sát biểu lãi suất huy động tại quầy của 30 ngân hàng niêm yết ngày 19/3/2026 cho thấy, mặt bằng lãi suất nhìn chung chưa biến động mạnh so với thời điểm 10/2/2026. Tuy nhiên, xu hướng tăng đã dần rõ nét hơn ở các kỳ hạn trung và dài, đặc biệt tại nhóm ngân hàng thương mại cổ phần quy mô vừa và nhỏ.
Ở kỳ hạn ngắn từ 1–3 tháng, mặt bằng lãi suất gần như đứng im. Phần lớn ngân hàng vẫn giữ nguyên mức niêm yết, dao động từ 2,1% đến 4,75%/năm. Trong đó, nhóm ngân hàng thương mại nhà nước tiếp tục duy trì mức thấp nhất thị trường, còn khối ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết cao hơn.
Bước sang kỳ hạn trung hạn 6-9 tháng, thị trường bắt đầu xuất hiện sự phân hóa rõ nét hơn. Một số ngân hàng đã điều chỉnh tăng lãi suất, đưa mức niêm yết lên từ 5-6%/năm. So với đầu tháng 2, mức điều chỉnh tăng dao động từ 0,1 – 0,8 điểm phần trăm cho thấy áp lực huy động vốn trung hạn đang gia tăng.
Đối với kỳ hạn 12 tháng, xu hướng tăng tiếp tục được duy trì. Lãi suất phổ biến dao động trong khoảng 5,2% – 6,6%/năm, trong đó một số ngân hàng điều chỉnh tăng 0,1 – 0,6 điểm phần trăm.
Lãi suất kỳ hạn 24 tháng tại 3 ngân hàng đang thấp hơn kỳ hạn 6 tháng cho thấy xu hướng ưu tiên huy động vốn ngắn hạn
Cụ thể, tại PGBank, lãi suất kỳ hạn 24 tháng ở mức 6,8%/năm, thấp hơn 0,3 điểm phần trăm so với kỳ hạn 6 tháng. Tương tự, VPBank niêm yết 6,2%/năm cho kỳ hạn 24 tháng, thấp hơn 0,2 điểm phần trăm và Vikki Bank áp dụng mức 6,3%/năm, thấp hơn 0,1 điểm phần trăm so với kỳ hạn 6 tháng.
Cạnh tranh lãi suất tiếp tục tập trung ở nhóm ngân hàng thương mại cổ phần, cá biệt một tổ chức nâng lãi suất kỳ hạn này vượt 7%/năm. Trong khi đó, nhóm ngân hàng thương mại nhà nước vẫn giữ mặt bằng ổn định.
Ở kỳ hạn 24 tháng, một số ngân hàng duy trì mức cao, trong khi một số khác điều chỉnh tăng nhẹ nhằm củng cố nguồn vốn trung – dài hạn. Nhìn chung, lãi suất kỳ hạn 24 tháng phổ biến trong khoảng 6,1%–7,5%/năm.
Xét riêng từng kì hạn đối với từng ngân hàng, với kỳ hạn 1 tháng, tính đến ngày 19/3/2026 có 7 ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất so với ngày 10/2/2026, trong khi 23 ngân hàng còn lại giữ nguyên. VietABank là ngân hàng có mức tăng mạnh nhất, lên tới 0,8 điểm phần trăm.
Mức lãi suất cao nhất ở kỳ hạn này hiện là 4,75%/năm, chạm mức trần quy định của Ngân hàng Nhà nước đối với tiền gửi dưới 6 tháng cho thấy áp lực huy động vốn gia tăng.
Các ngân hàng đang áp dụng mức lãi suất trên bao gồm: VPBank, PVcomBank, Saigonbank, PGBank, OCB và BVBank. So với thời điểm đầu tháng 2, mức lãi suất trên vẫn giữ nguyên.
Vikki Bank hiện duy trì lãi suất 4,7%/năm, đứng thứ hai toàn hệ thống. Theo sau là Bắc Á Bank, TPBank, VietABank, Sacombank, VietBank, NCB và LPBank với mức từ 4,4%–4,55%/năm. Ngoại trừ Bắc Á Bank và TPBank, các ngân hàng trên đều điều chỉnh tăng từ 0,1–0,8 điểm phần trăm.
Trong khi đó, các ngân hàng trong nhóm Big4 gồm BIDV, Agribank, Vietcombank và VietinBank tiếp tục duy trì xu hướng ổn định với mức lãi suất thấp nhất thị trường. Cụ thể, Agribank niêm yết 2,6%/năm cho kỳ hạn 1 tháng, còn BIDV, VietinBank và Vietcombank cùng ở mức 2,1%/năm.
Đối với kỳ hạn 3 tháng, mức trần 4,75%/năm cũng được ghi nhận tại 6 ngân hàng gồm: VPBank, PVcomBank, Saigonbank, PGBank, OCB và BVBank.
Ngoài ra, lãi suất huy động tại các ngân hàng như Vikki Bank, VietABank và Sacombank cũng tiệm cận mức trần, đều niêm yết ở mức 4,7%/năm, tăng từ 0,1-0,7 điểm phần trăm. Theo sau là Bắc Á Bank và TPBank với lãi suất huy động dao động ở mức 4,5%/năm.
Nhìn chung, nhóm ngân hàng thương mại do Nhà nước chi phối vẫn là nhóm có lãi suất thấp nhất thị trường, với mức 2,1%–2,6%/năm ở kỳ hạn 1 tháng và 2,4%–2,9%/năm ở kỳ hạn 3 tháng. Trong khi đó, VietABank là ngân hàng điều chỉnh tăng mạnh nhất ở cả hai kì hạn dưới 6 tháng.
Ngoại trừ nhóm Big4, các ngân hàng thương mại khác đều có lãi suất kì hạn 3 tháng trên 3%.
Trong nhóm ngân hàng nhà nước, ba ngân hàng là Vietcombank, BIDV và VietinBank vẫn giữ nguyên lãi suất ở mức 2,4%/năm. Cao nhất trong nhóm là Agribank với 2,9%/năm.
Lãi suất tiết kiệm cao nhất ở kỳ hạn 6 tháng là 7,1%/năm được áp dụng đối với tiền gửi tại PGBank. Đứng thứ hai là Bắc Á Bank với 6,8%/năm.
Theo sát là mức lãi suất 6,4%/năm áp dụng tại VPBank và Vikki Bank. Tương tự kỳ hạn ngắn, nhóm ngân hàng quốc doanh vẫn áp dụng lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 6 tháng thấp nhất thị trường từ 3,5-4%/năm, trong đó lãi suất tại Agribank cao nhất..
Tính đến ngày 19/3/2026, có 9 ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất kỳ hạn 6 tháng, với mức tăng phổ biến từ 0,1–0,8 điểm phần trăm. Trong đó, TPBank, VietBank và VietABank là những ngân hàng có mức điều chỉnh mạnh nhất.
Cụ thể, VPBank tăng từ 6% lên 6,4%; TPBank từ 4,9% lên 5,7%; VietABank từ 5,1% lên 5,9%; Sacombank từ 5,3% lên 5,5%; VietBank từ 5,2% lên 6%; LPBank từ 5,7% lên 6,2%; NCB từ 6,1% lên 6,2%; BaoVietBank từ 5,8% lên 6%; Techcombank tăng nhẹ từ 5,05% lên 5,15%/năm.
Đối với kỳ hạn 12 tháng, PGBank tiếp tục dẫn đầu với mức 7,2%/năm, theo sau là Bắc Á Bank với 6,85%/năm. Ở chiều ngược lại, ACB là ngân hàng niêm yết mức lãi suất thấp nhất, khoảng 5%/năm.
Nhóm Big4 vẫn duy trì ổn định quanh mức 5,2%/năm. So với đầu tháng 2, có 9 ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất kỳ hạn này, gồm VPBank, VietABank, Sacombank, VietBank, LPBank, NCB, BaoVietBank, MB và Techcombank. Trong đó, MB có mức tăng mạnh nhất, từ 5,5% lên 6,5%/năm, trong khi Techcombank chỉ tăng nhẹ 0,1 điểm phần trăm, từ 5,15% lên 5,25%/năm.
So sánh giữa các kỳ hạn cho thấy lãi suất 12 tháng cao hơn kỳ hạn 6 tháng từ 0,05–1,8 điểm phần trăm, tùy từng ngân hàng. MB là đơn vị có mức chênh lệch lớn nhất, tương đương 1,8 điểm phần trăm, với lãi suất 6 tháng là 4,7%, còn 12 tháng là 6,5%.
Ngược lại, lãi suất 6 tháng và 12 tháng tại Bắc Á Bank chỉ chênh lệch 0,05 điểm phần trăm khi lãi suất 6 tháng là 6,8%, còn 12 tháng là 6,85%.
Các mức lãi suất tiết kiệm nói trên đều dành cho tiền gửi trực tiếp tại quầy của khách hàng cá nhân. Lãi suất tiền gửi online cao hơn lãi suất tại quầy từ 0,3 đến 0,7 điểm phần trăm, tuỳ từng tổ chức. Các ngân hàng đều có những chính sách lãi suất riêng áp dụng cho nhiều đối tượng khách hàng khác nhau, tuỳ thuộc vào giá trị tiền gửi. Ngoài ra, mức lãi suất huy động thực tế có thể thay đổi tùy vào tình hình cân đối vốn của từng chi nhánh ngân hàng.
-Lan Anh
]]>