Vĩ mô Việt Nam

Lợi thế giúp Việt Nam thu hẹp khoảng cách và sẽ vượt quy mô GDP với Thái Lan

Vietnamfinance
· 7 giờ trước

Việt Nam thu hẹp khoảng cách GDP với Thái Lan

Con số thống kê chính thức của Việt Nam công bố cho biết, GDP tăng 9,95% so với cùng kỳ năm trước trong quý 3/2026, mức tăng cao nhất kể từ đại dịch. Tốc độ này cao hơn mức 8,15% trong quý 1/2026 và 8,81% trong quý 2/2026.

Tăng trưởng GDP trong 9 tháng đầu năm đạt 9,01%. Ngược lại, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo kinh tế Thái Lan chỉ tăng khoảng 1,9% trong năm 2026, sau khi đạt khoảng 2,1% vào năm 2025.

Đà tăng trưởng của Việt Nam diễn ra trên nhiều lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, xuất khẩu. Trong đó, đầu tư tiếp tục là động lực thúc đẩy tăng trưởng. Tổng vốn đầu tư tăng 16,7% trong 9 tháng đầu năm, trong khi vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thực hiện đạt 21,07 tỷ USD, mức cao nhất trong cùng kỳ 5 năm qua.

Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đã nâng dự báo tăng trưởng GDP năm 2026 của Việt Nam từ 7,2% lên 7,8%, nhờ sản xuất công nghiệp, tiêu dùng trong nước và dòng vốn FDI. Tuy nhiên, mức dự báo này vẫn thấp hơn tốc độ tăng trưởng thực tế của Việt Nam trong những quý gần đây. Chính phủ Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP cả năm trên 10%.

Biểu đồ so sánh GDP Việt Nam và Thái Lan. Nguồn: IMF

Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới, GDP danh nghĩa của Thái Lan đạt khoảng 577 tỷ USD trong năm 2025, so với 514,7 tỷ USD của Việt Nam, chênh lệch khoảng 62 tỷ USD. Như vậy, quy mô nền kinh tế Việt Nam đã tương đương gần 90% Thái Lan.

Các dự báo trước đây của IMF, được đưa ra trước đợt tăng tốc gần đây của kinh tế Việt Nam, cho thấy GDP danh nghĩa của Thái Lan có thể đạt khoảng 580 tỷ USD trong năm 2026, so với 527 tỷ USD của Việt Nam. Đến năm 2027, quy mô kinh tế Thái Lan được dự báo đạt 584 tỷ USD, còn Việt Nam đạt 557 tỷ USD, thu hẹp khoảng cách xuống còn 27 tỷ USD.

Đến năm 2028, chênh lệch GDP giữa hai nước có thể giảm còn 4 tỷ USD, khi Thái Lan đạt 599 tỷ USD và Việt Nam đạt 595 tỷ USD.

Việt Nam được dự báo vượt Thái Lan vào năm 2029, với GDP đạt 631 tỷ USD so với 623 tỷ USD. Khoảng cách này tiếp tục nới rộng trong các năm sau đó, lên 668 tỷ USD so với 648 tỷ USD vào năm 2030 và 705 tỷ USD so với 675 tỷ USD vào năm 2031.

Những dự báo trên cho thấy Việt Nam có thể vượt Thái Lan về quy mô GDP vào khoảng năm 2029. Với mức tăng trưởng 9,01% trong 9 tháng đầu năm, khả năng hai nền kinh tế đạt quy mô tương đương ngay từ năm 2028 đang trở nên rõ ràng hơn, dù biến động tỷ giá có thể làm thay đổi thời điểm này. Đồng baht tăng giá sẽ làm GDP tính bằng USD của Thái Lan lớn hơn, trong khi đồng tiền Việt Nam mất giá có thể kéo giảm quy mô GDP khi quy đổi sang USD.

Lợi thế dân số và đầu tư

Thu nhập bình quân đầu người vẫn là lợi thế đáng kể của Thái Lan. Số liệu của Ngân hàng Thế giới cho thấy GDP bình quân đầu người của Thái Lan đạt 8.057 USD trong năm 2025, so với 5.066 USD của Việt Nam. Ước tính dựa trên số liệu IMF cho năm 2026 cho thấy mức này của Thái Lan vào khoảng 8.105 USD, còn Việt Nam đạt khoảng 5.115 USD, chênh lệch khoảng 63%.

Các dự báo cho thấy GDP bình quân đầu người của Thái Lan có thể đạt 8.392 USD vào năm 2028, so với 5.698 USD của Việt Nam. Đến năm 2030, con số này dự kiến tăng lên lần lượt 9.092 USD và 6.323 USD. Năm 2031, Thái Lan có thể đạt 9.498 USD, còn Việt Nam đạt 6.652 USD. Nếu thu nhập bình quân đầu người danh nghĩa của Việt Nam tăng 6% đến 7% mỗi năm, trong khi Thái Lan tăng 3% đến 4%, hai nước có thể thu hẹp đáng kể khoảng cách vào cuối thập niên 2030 hoặc trong thập niên 2040.

Sản xuất công nghiệp và dòng vốn đầu tư tiếp tục là những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong năm 2026. Ảnh: JTM Asia

Khác biệt về cơ cấu kinh tế giữa hai nước còn thể hiện ở quy mô và độ tuổi dân số. Việt Nam có khoảng 103 triệu dân, so với 71,6 triệu người của Thái Lan, tức đông hơn khoảng 44%. Dân số trẻ hơn giúp Việt Nam có nguồn lao động dồi dào và thị trường tiêu dùng nội địa lớn hơn.

Dân số Thái Lan đang giảm và được dự báo giảm 0,1% đến 0,2% mỗi năm vào cuối thập kỷ này, trong khi dân số Việt Nam vẫn có thể tăng khoảng 0,5% mỗi năm. Ngân hàng Thế giới xác định tình trạng già hóa dân số, năng suất tăng chậm, nợ hộ gia đình cao và sự phát triển hạn chế của các doanh nghiệp vừa và nhỏ là những thách thức lớn đối với kinh tế Thái Lan.

Đầu tư là một trong những điểm khác biệt nổi bật giữa hai nền kinh tế. IMF ước tính tổng đầu tư trong nước của Thái Lan tương đương khoảng 20,6% GDP vào năm 2026, trong đó đầu tư tư nhân chiếm 16,4%. Trong khi đó, vốn đầu tư tại Việt Nam đang tăng trưởng với tốc độ hai chữ số.

Thái Lan vẫn là một trung tâm sản xuất lớn của khu vực, với các ngành công nghiệp ô tô, điện tử, hóa dầu và chế biến thực phẩm. Nước này cũng có ngành du lịch phát triển, cơ sở hạ tầng tương đối hoàn thiện và thị trường tài chính có quy mô lớn.

Ngành sản xuất đóng góp khoảng một phần tư GDP của Thái Lan và tạo ra hơn 6 triệu việc làm. Xuất khẩu điện tử gần đây được hưởng lợi từ làn sóng đầu tư vào trí tuệ nhân tạo (AI). Ngân hàng Thế giới cũng chỉ ra cơ hội phát triển trong các lĩnh vực xe điện, pin, thiết bị năng lượng mặt trời và thiết bị gia dụng tiết kiệm năng lượng. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế Thái Lan vẫn chỉ ở mức khoảng 2%.

Việt Nam có lợi thế về chi phí lao động, cơ sở hạ tầng đang phát triển, vị trí gần các chuỗi cung ứng của Trung Quốc và xu hướng dịch chuyển sản xuất sang các quốc gia khác ngoài Trung Quốc. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn phải giải quyết những hạn chế trong việc nâng cao giá trị gia tăng trong nước, phát triển mạng lưới nhà cung cấp nội địa và giữ lại nhiều lợi nhuận hơn từ hoạt động của các nhà máy thuộc sở hữu nước ngoài.

Theo Tạp chí SME Asia