Ngân hàng Nhà nước nêu điều kiện miễn trần LDR cho các nhà băng

Vừa qua, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành Thông tư 50/2026/TT-NHNN quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Quy định này có hiệu lực từ 1/12/2026.
Cụ thể, Thông tư quy định các tổ chức tín dụng phải duy trì thường xuyên các chỉ tiêu quan trọng như tỷ lệ khả năng chi trả (LCR), tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng (NSFR) cùng với các giới hạn về cấp tín dụng và tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR).
Thông tư quy định, từ 01/10/2028 mọi ngân hàng phải áp dụng hai tỷ lệ thanh khoản mới. Ngưỡng tối thiểu của LCR bắt đầu ở 50%, tăng 10 điểm phần trăm mỗi năm và đạt 100% từ 01/10/2033. NSFR bắt đầu ở 90%, lên 95% sau một năm và đạt 100% từ 01/10/2030.
Trong giai đoạn này, ngân hàng chưa đạt 100% cho cả hai chỉ số phải giữ LDR tối đa 95%. Ngân hàng chưa chuyển đổi tiếp tục theo Thông tư 22/2019 với trần 85%. Khi đạt 100% cả hai tỷ lệ, ngân hàng được miễn tuân thủ trần LDR nhưng vẫn phải báo cáo LDR.

Ngoài ra, từ ngày Thông tư có hiệu lực đến trước ngày 01/01/2028, ngân hàng được gửi văn bản đăng ký tới NHNN để thực hiện LCR và NSFR theo lộ trình sớm hơn thời điểm bắt buộc. Ngân hàng phải gửi kèm Báo cáo đánh giá của Hội đồng quản trị/Hội đồng thành viên (hoặc Tổng Giám đốc/Giám đốc chi nhánh ngân hàng nước ngoài) và Báo cáo đánh giá của tổ chức kiểm toán độc lập xác nhận ngân hàng đã tuân thủ đầy đủ quy định về LCR và NSFR tại ngày cuối cùng mỗi tháng trong 3 tháng liên tiếp trước ngày gửi đăng ký.
Thông tư cũng điều chỉnh cách tính tỷ lệ LDR với việc mở rộng bản chất của Mẫu số (D), tinh chỉnh loại trừ trong Tử số (L) và gắn trực tiếp với cơ chế miễn tuân thủ khi áp dụng chuẩn mực thanh khoản Basel III.
Cụ thể, Tử số là dư nợ gốc nội bảng mà ngân hàng chịu rủi ro từ hoạt động cho vay, gồm cả dư nợ phát sinh từ nhận ủy thác đối với cá nhân, tổ chức và dư nợ ủy thác cho tổ chức tín dụng khác cho vay. Các khoản cho tổ chức tín dụng khác vay và dư vay tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước không nhằm hỗ trợ thanh khoản không được tính trong Tử số.
Mẫu số gồm tiền gửi của tổ chức và cá nhân, cùng nhiều nguồn khác gồm trái phiếu trong nước đủ điều kiện tính vào vốn cấp 2, vốn ủy thác cấp tín dụng mà ngân hàng chịu rủi ro, nguồn vay nước ngoài (kể cả trái phiếu phát hành ra thị trường quốc tế), vốn điều lệ, các quỹ, thặng dư vốn cổ phần, lợi nhuận chưa phân phối, cùng chênh lệch dương trong quan hệ liên ngân hàng.
Trong khi đó, tiền gửi của tổ chức tín dụng khác, ký quỹ và vốn chuyên dùng, tiền gửi không kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước, và 80% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc (hoặc tỉ lệ khác do Thống đốc quyết định) bị loại khỏi mẫu số.
Mẫu số còn bị trừ dư nợ cấp tín dụng ngoài cho vay, dư đầu tư trái phiếu doanh nghiệp và dư nợ ủy thác cho tổ chức tín dụng khác cấp tín dụng không phải cho vay. Trái phiếu do tổ chức tín dụng trong nước phát hành và trái phiếu đặc biệt của VAMC không bị trừ.