Ngân hàng

Ngân hàng nửa cuối 2026: Lợi nhuận tăng tốc nhưng bộ đệm an toàn mỏng dần

Vietnamfinance
· 9 giờ trước
Ngân hàng nửa cuối 2026: Lợi nhuận tăng tốc nhưng bộ đệm an toàn mỏng dầnHoàng Phan-25/08/2026 10:30 (GMT+7)(VNF) - Lợi nhuận ngành ngân hàng tăng mạnh trong quý II/2026 khi biên lãi ròng phục hồi và tín dụng tăng tốc.TIN LIÊN QUANLãi suất liên ngân hàng bất ngờ giảm mạnh24/08/2026 12:46Quý II/2026 đánh dấu một trong những giai đoạn tăng trưởng lợi nhuận mạnh nhất của ngànhngân hàngtrong vài năm gần đây. Theo thống kê của Yuanta Việt Nam trên 27 ngân hàng, lợi nhuận sau thuế thuộc cổ đông công ty mẹ đạt khoảng 88.000 tỷ đồng, tăng 18% so với quý trước và 25% so với cùng kỳ. Lũy kế sáu tháng đầu năm, lợi nhuận tăng 19%. 18 ngân hàng ghi nhận lợi nhuận tăng trưởng, chỉ 6 ngân hàng giảm và 3 ngân hàng gần như đi ngang.Tuy nhiên, chất lượng của đợt tăng trưởng này không hoàn toàn đồng đều. Một phần lợi nhuận đến từ biên lãi ròng phục hồi, tín dụng tăng nhanh và hiệu quả vận hành tốt hơn, nhưng ở một số ngân hàng, việc giảm mạnh chi phí dự phòng hoặc ghi nhận nguồn thu bất thường cũng đóng vai trò đáng kể.Vietcombank là trường hợp nổi bật. Lợi nhuận quý II đạt khoảng 14.500 tỷ đồng, tăng 65% so với cùng kỳ, trong đó thu nhập thuần khác tăng lên hơn 4.000 tỷ đồng, chủ yếu từ thu hồi nợ xấu, trong khi chi phí dự phòng giảm còn 503 tỷ đồng. Yuanta tính toán rằng ngay cả khi loại bớt yếu tố đột biến này, lợi nhuận toàn ngành vẫn tăng khoảng 20% so với cùng kỳ, cho thấy xu hướng cải thiện là tương đối rộng.VPBank cũng lập kỷ lục với lợi nhuận quý II khoảng 8.400 tỷ đồng, tăng 72%. HDBank tăng 58%, MB tăng 40%. Trong khi đó, Sacombank đi ngược xu hướng khi lợi nhuận giảm 54%, chủ yếu do ngân hàng chủ động trích lập hơn 5.100 tỷ đồng dự phòng trong quá trình làm sạch bảng cân đối.NIM trở lại nhưng đang đánh đổi bằng kỳ hạn và thanh khoảnMột trong những thay đổi quan trọng nhất trong quý II là sự phục hồi của biên lãi ròng (NIM). NIM quy năm của 27 ngân hàng tăng 0,16 điểm phần trăm so với quý trước, lên 3,15%. Đây là tín hiệu tích cực sau thời gian dài ngành ngân hàng chịu sức ép từ chi phí huy động tăng và yêu cầu giảm lãi suất cho vay.Tuy nhiên, nguồn gốc của sự phục hồi đáng chú ý hơn chính con số NIM. Lợi suất tài sản của toàn ngành tăng lên 7,70%, nhưng chi phí vốn cũng tăng mạnh lên 4,79%. Ngân hàng không cải thiện NIM nhờ vốn đầu vào rẻ hơn, mà chủ yếu bằng cách tái định giá khoản vay và dịch chuyển danh mục sang các khoản tín dụng có kỳ hạn dài, lợi suất cao hơn.Tỷ trọng cho vay dài hạn đã tăng lên 33,1% tổng dư nợ, từ 30,4% một năm trước. Sau khi quy định về tỷ lệ tối đa vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn được nâng từ 30% lên 40%, các ngân hàng có thêm không gian kéo dài kỳ hạn tài sản.Một loạt ngân hàng đã tận dụng dư địa này. Tỷ trọng cho vay dài hạn của MSB tăng 7 điểm phần trăm lên 36%, Vietcombank tăng 6 điểm phần trăm lên 38%. HDBank tăng 6 điểm phần trăm lên 22%, VPBank tăng 5 điểm phần trăm lên 29% và ACB tăng 4 điểm phần trăm lên 34%.Ở góc độ lợi nhuận, chiến lược này mang lại hiệu quả rõ rệt. Nhưng nó đồng thời làm gia tăng rủi ro chênh lệch kỳ hạn. Ngân hàng sử dụng nguồn vốn chủ yếu ngắn hạn để tài trợ cho các khoản vay ngày càng dài hơn.Yuanta vì vậy cho rằng việc nới tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn nên được xem như một biện pháp hỗ trợ tạm thời. Khi điều kiện thị trường thuận lợi hơn, Ngân hàng Nhà nước có thể đưa tỷ lệ này trở lại 30%.Một áp lực khác đến từ nguồn vốn. Tín dụng của 27 ngân hàng tăng 9,2% trong sáu tháng đầu năm, trong khi tiền gửi chỉ tăng 6,7%. Tỷ lệ dư nợ cho vay trên tiền gửi khách hàng vì thế tăng từ 108% cùng kỳ lên khoảng 114%.Khoảng cách giữa tín dụng và huy động đang ngày càng lớn. Nhóm ngân hàng tham gia tái cơ cấu các tổ chức tín dụng yếu kém có tốc độ cho vay nổi bật nhất: VPBank tăng 23%, HDBank 20,6% và MB 13,2%. Ngược lại, các ngân hàng thương mại nhà nước tăng chậm hơn, với VietinBank và Vietcombank cùng khoảng 5%, BIDV 5,4%.Trong bối cảnh thanh khoản trong nước chịu áp lực, một số ngân hàng bắt đầu quay trở lại thị trường vốn quốc tế. Tổng giá trị các khoản vay hợp vốn đã ký hoặc đang triển khai của VPBank, Techcombank, HDBank và ACB lên khoảng 3,4 tỷ USD.VPBank dẫn đầu với khoản vay 1,44 tỷ USD kỳ hạn ba năm. Techcombank dự kiến huy động 1 tỷ USD. HDBank đã ký khoản vay 721 triệu USD, còn ACB đang triển khai khoản vay khoảng 300 triệu USD.Nhưng đây không phải là "vốn rẻ". Với SOFR khoảng 3,62% và biên độ vay phổ biến 140-170 điểm cơ bản, chi phí USD có thể lên 5-5,3% trước khi tính chi phí phòng ngừa tỷ giá và phí thu xếp. Theo Yuanta, mục tiêu chính của các khoản vay này là mua thêm kỳ hạn và sự ổn định cho nguồn vốn, thay vì tiết kiệm chi phí.Một lợi thế vốn khác cũng đang trở nên ít chắc chắn hơn: tiền gửi không kỳ hạn (CASA). CASA toàn ngành giảm 1,21 điểm phần trăm so với cùng kỳ xuống 20,9%. MB, Techcombank và Vietcombank vẫn duy trì tỷ lệ trên 30%, qua đó tiếp tục nằm trong nhóm có khả năng bảo vệ NIM tốt nhất. Nhưng ngay cả ba ngân hàng này cũng chứng kiến CASA giảm so với một năm trước.Đặc biệt, phần cải thiện CASA gần đây của Techcombank chủ yếu đến từ khách hàng doanh nghiệp, nguồn tiền thường biến động hơn tiền gửi của khách hàng cá nhân. Vì vậy, cuộc cạnh tranh hiện không chỉ nằm ở ngân hàng nào sở hữu CASA lớn nhất, mà còn ở độ bền của dòng tiền giá rẻ.NIM các ngân hàng trong 3 quý gần nhất. Ảnh: YuantaLợi nhuận tăng nhanh hơn bộ đệm rủi roNếu NIM là điểm sáng, chất lượng tài sản đang phát ra những tín hiệu thận trọng hơn. Tỷ lệ nợ xấu toàn ngành gần như không đổi, ở mức 2,01%. Nhưng nợ nhóm 2 – thường được xem là chỉ báo sớm của nợ xấu – tăng 0,14 điểm phần trăm trong một quý lên 1,38%, mức cao nhất kể từ quý II/2025.Quan trọng hơn, tỷ lệ bao phủ nợ xấu chỉ còn 78,9%, giảm quý thứ hai liên tiếp và xuống mức thấp nhất kể từ quý II/2018. Sự phân hóa giữa các ngân hàng rất lớn. Vietcombank vẫn đứng đầu với nợ xấu chỉ 0,61% và tỷ lệ bao phủ 182%. VietinBank đạt 134%, Techcombank 126% và ACB khoảng 105%. Đây cũng là bốn ngân hàng duy nhất trong mẫu duy trì bộ đệm dự phòng lớn hơn quy mô nợ xấu.Ở chiều ngược lại, một số ngân hàng vừa có nợ xấu tương đối cao vừa sở hữu bộ đệm mỏng. Sacombank có tỷ lệ nợ xấu 7,54%, VPBank 3,28%, OCB 3,49%, VIB 2,93%, trong khi tỷ lệ bao phủ phổ biến dưới 60%.Một chỉ báo khác cũng đáng chú ý là lãi dự thu. Tỷ lệ lãi dự thu trên tổng tài sản toàn ngành tăng lên 1,04%, cao nhất kể từ quý II/2024. Mức tăng tập trung nhiều hơn ở các ngân hàng quy mô vừa và nhỏ. Tại VAB, tỷ lệ này lên tới 5,36%; BAB 3,52%; MSB 2,82%; NAB 2,25%.MSB đã có bảy quý liên tiếp ghi nhận tỷ lệ lãi dự thu trên tài sản tăng, trong khi NAB tăng bốn quý liên tiếp. Đây chưa phải bằng chứng trực tiếp về suy giảm chất lượng tài sản, nhưng là chỉ báo cần theo dõi khi khả năng chuyển hóa khoản lãi đã ghi nhận thành dòng tiền thực tế trở nên quan trọng hơn.Khi đưa chi phí rủi ro vào phép tính, sự khác biệt giữa các ngân hàng càng rõ. NIM sau khi trừ chi phí rủi ro tín dụng của Techcombank đạt khoảng 3,74%, cao nhất trong nhóm được Yuanta thống kê. Tiếp theo là Vietcombank 2,94%, MB 2,80%, HDBank 2,60% và ACB 2,50%.Điều này giải thích vì sao trong bối cảnh toàn ngành cùng hưởng lợi từ tín dụng tăng và NIM phục hồi, Yuanta vẫn ưu tiên những ngân hàng sở hữu bảng cân đối đủ mạnh để hấp thụ một chu kỳ rủi ro mới.Áp lực còn có thể tăng trong nửa cuối năm. Ngân hàng Nhà nước đã yêu cầu các tổ chức tín dụng giảm lãi suất để hỗ trợ nền kinh tế và cho biết hạn mức tăng trưởng tín dụng năm 2027 có thể gắn với mức độ thực hiện yêu cầu này. Nếu lãi suất đầu ra phải giảm trong khi chi phí huy động vẫn cao, NIM khó duy trì tốc độ phục hồi như quý II.Những ngân hàng sở hữu CASA cao như MB, Techcombank, Vietcombank, hoặc có khả năng chuyển dịch sang khoản vay kỳ hạn dài như ACB, VietinBank và Vietcombank, được đánh giá có vị thế phòng thủ tốt hơn. Điểm tích cực là định giá ngành chưa phản ánh một kịch bản quá lạc quan. P/B dự phóng năm 2026 của ngành ngân hàng hiện quanh 1,2 lần, trong khi ROE khoảng 17%, thấp hơn khoảng một độ lệch chuẩn so với mức bình quân 10 năm.Lãi suất liên ngân hàng bất ngờ giảm mạnhLãi suất liên ngân hàng bất ngờ giảm mạnhNgân hàng(VNF) - Lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn qua đêm bất ngờ giảm mạnh, xuống mốc 3%/năm vào cuối tuần qua khi NHNN tiếp tục hút ròng hơn 7.800 tỷ đồng.