Ngân hàng

Ngân hàng nửa đầu năm 2026: Áp lực đằng sau niềm vui lãi lớn

Vietnamfinance
· 8 giờ trước
Ngân hàng nửa đầu năm 2026: Áp lực đằng sau niềm vui lãi lớnKhánh Tú-07/08/2026 09:30 (GMT+7)(VNF) - So với mục tiêu lợi nhuận đề ra, ngành ngân hàng đã hoàn thành khoảng 47% kế hoạch sau 6 tháng đầu năm. Cùng với những điểm sáng, ngành ngân hàng vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức, trong đó có nợ xấu và áp lực thanh khoản.Sự phân hóa giữa các ngân hàngLợi nhuận trước thuế quý II/2026 của 27 ngân hàng niêm yết trên sàn chứng khoán đạt gần 111.000 tỷ đồng, tăng 25% so với cùng kỳ năm ngoái và 18% so với quý trước. Lũy kế nửa đầu năm 2026, lợi nhuận trước thuế của 27 ngân hàng đạt hơn 205.000 tỷ đồng, tăng 20% so với đầu năm.Tuy nhiên, trong bức tranh tăng trưởng chung đó, nhóm ngân hàng quy mô lớn vẫn giữ vai trò chủ đạo. Báo cáo mới đây của VDSC chỉ ra, lợi nhuận trước thuế 6 tháng đầu năm 2026 của nhóm ngân hàng thương mại quốc doanh và nhóm ngân hàng TMCP quy mô lớn (tổng tài sản trên 500.000 tỷ đồng) lần lượt tăng 30% và 14% so với cùng kỳ năm ngoái. Cùng kỳ, lợi nhuận trước thuế của nhóm ngân hàng quy mô nhỏ, dù tăng 60%, nhưng chủ yếu dựa trên mức nền thấp. Trái lại, nhóm ngân hàng quy mô trung bình lại chứng kiến mức giảm 7% trong lợi nhuận trước thuế.Nếu so với mục tiêu lợi nhuận đề ra, ngành ngân hàng đã hoàn thành khoảng 47% kế hoạch sau 6 tháng đầu năm. Xét theo từng nhóm ngân hàng, nhóm quy mô nhỏ đang có tiến độ nhanh nhất (78%), theo sau là nhóm quốc doanh (52%) và nhóm quy mô lớn (46%). Tụt lại phía sau là nhóm ngân hàng quy mô trung bình khi chỉ mới hoàn thành 35% mục tiêu cả năm.Xét về số dư tuyệt đối, trong nửa đầu năm 2026, có 3 ngân hàng ghi nhận lợi nhuận vượt mốc 20.000 tỷ đồng và chia nhau giữ 3 vị trí đầu bảng xếp hạng lợi nhuận, bao gồm Vietcombank (29.222 tỷ đồng), VietinBank (25.868 tỷ đồng) và MB (20.188 tỷ đồng). Trong đó, vị trí của Vietcombank và VietinBank vẫn giữ nguyên so với trước đó còn MB đã vươn lên từ vị trí thứ 4 trước đó, vượt BIDV.Theo sau là nhóm lợi nhuận trên 10.000 tỷ đồng tiếp tục được mở rộng với 6 ngân hàng, gồm 2 ngân hàng quốc doanh (BIDV, Agribank) và 4 ngân hàng TMCP (VPBank, Techcombank, HDBank, ACB).Ở chiều ngược lại, SeABank, Eximbank và Sacombank là các ngân hàng kéo lùi tăng trưởng chung toàn ngành khi lợi nhuận trước thuế của 3 ngân hàng lần lượt giảm 55%, 54% và 44%.Động lực đầu tiên cho tăng trưởng toàn ngành nửa đầu năm 2026 là sự mở rộng của tín dụng. Tính đến cuối quý II/2026, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống đạt 8,3% so với đầu năm và tăng 17,4% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, nổi bật là những ngân hàng như VPBank (tăng 24,6% so với đầu năm), HDBank (tăng 17,9%), Techcombank (14,3%) và MB (13,5%).Mức tăng trưởng tín dụng được dẫn dắt bởi nhóm ngân hàng TMCP được ưu đãi hạn mức và tín dụng doanh nghiệp với mức tăng 13,2% so với đầu năm, gấp 2,5 lần nhóm ngân hàng quốc doanh (5,2%) và cao hơn đáng kể nhóm quy mô trung bình (8,1%). Nguyên nhân là do các ngân hàng quốc doanh định hướng tăng trưởng thận trọng, bám sát điều hành của NHNN trong khi những ngân hàng tư nhân quy mô nhỏ hơn đã sử dụng gần hết hạn mức được cấp từ đầu năm.Động lực tiếp theo đến từ thu nhập ngoài lãi, đặc biệt là hoạt động dịch vụ. Theo số liệu của VDSC, tổng thu nhập ngoài lãi nửa đầu năm 2026 đạt hơn 92.000 tỷ đồng, tăng 18% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, thu nhập thuần hoạt động – dịch vụ đạt hơn 49.000 tỷ đồng (tăng 58% so với cùng kỳ năm ngoái) và thu nhập khác đạt hơn 28.000 tỷ đồng (tăng 31% so với cùng kỳ năm ngoái).Việc NIM tạo đáy và phục hồi trong quý II/2026 cũng đóng góp không nhỏ vào bức tranh tăng trưởng chung của toàn ngành. NIM toàn ngành trong quý II/2026 phục hồi lên 3,06%, từ mức đáy nhiều năm 2,89% của quý I/2026, khi lợi suất tài sản sinh lãi tăng mạnh 71điểm cơ bản so với quý trước đó, lên 7,46% và vượt mức tăng 60 điểm cơ bản của chi phí vốn (lên 4,81%).Thách thức vẫn cònSong, bên cạnh những điểm sáng, ngành ngân hàng vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức trong nửa đầu năm và dự báo sẽ tiếp tục duy trì trong nửa cuối năm 2026.Đầu tiên, huy động tiếp tục là điểm nghẽn khi tăng trưởng huy động vẫn chưa thể bắt kịp tăng trưởng tín dụng. Tăng trưởng huy động của hệ thống ngân hàng tới hết quý II/2026 đạt 5% so với đầu năm, thấp hơn so với mức 8,3% của tín dụng. Về số dư tuyệt đối, quy mô huy động toàn hệ thống thấp hơn khoảng 2,8 triệu tỷ đồng, nới rộng từ mức 2,6 triệu tỷ đồng tính đến cuối quý I/2026.Sức ép thanh khoản kéo theo việc các ngân hàng phải tăng lãi suất huy động thể thu hút thêm tiền gửi. Theo VDSC, lãi suất huy động đã tăng thêm 75- 120 điểm cơ bản trong nửa đầu năm 2026, lên 3,84% tại nhóm quốc doanh, 5,14% tại nhóm quy mô lớn và 5,56% tại nhóm quy mô trung bình. Mức tăng này đã tác động trực tiếp vào chi phí vốn của các ngân hàng.Tiếp đến là thách thức về chất lượng tài sản khi nợ nhóm 2 hình thành ròng tăng lên mức cao nhất kể từ quý I/2023.Nợ nhóm 2 hình thành ròng tăng mạnh.Nợ xấu nội bảng toàn ngành tăng lên mức khoảng 310.000 tỷ đồng tại cuối quý II/2026 (tăng 6% so với quý trước), tương đương tỷ lệ nợ xấu (cho vay khách hàng) 2,01% – gần như đi ngang so với mức 1,99% của quý I/2026 nhờ tác động pha loãng từ tăng trưởng tín dụng cao.Tuy nhiên, nợ nhóm 2 tăng lên hơn 212.000 tỷ đồng, đưa tỷ lệ nợ nhóm 2 lên 1,37% từ mức 1,23% của quý I/2026. Cùng với đó, nợ xấu hình thành ròng quý II/2026 đạt gần 50.000 tỷ đồng, giảm nhẹ so với mức 53.000 tỷ đồng của quý trước, nhưng nợ nhóm 2 hình thành ròng lại tăng lên gần 81.000 tỷ đồng.Nguyên nhân đằng sau việc nợ xấu hình thành ròng duy trì ở mức cao trong quý II/2026 đến từ mặt bằng lãi suất cho vay tăng nhanh, tác động lên khả năng trả nợ của khách hàng vay, đặc biệt ở phân khúc bán lẻ.Dự báo về nửa cuối năm 2026, các chuyên gia phân tích VDSC cho rằng ở chiều tích cực, áp lực thanh khoản được kỳ vọng sẽ hạ nhiệt trong nửa cuối năm khi tốc độ giải ngân đầu tư công được đẩy nhanh, tỷ lệ tiền mặt lưu thông ngoài hệ thống có xu hướng giảm và những quy định nới lỏng của NHNN.Tuy nhiên, nếu ngân sách chưa chuyển sang trạng thái thâm hụt, khoảng cách huy động – tín dụng sẽ khó thu hẹp đáng kể. Ngoài ra, áp lực trích lập dự phòng sẽ gia tăng và trở thành rủi ro chính đối với tăng trưởng lợi nhuận của ngành, đặc biệt là tại nhóm ngân hàng có tỷ lệ LLR dưới 60%.