Tin tức thị trường

Nguồn cung mủ tăng chậm, doanh nghiệp cao su tìm dư địa từ đất khu công nghiệp

Vietnambiz
· 9 giờ trước

Nhu cầu tái canh và thanh lý sẽ xuất hiện trong những năm tới

Theo báo cáo thị trường cao su của Chứng khoán Kafi, Việt Nam hiện đóng góp khoảng 8–9% sản lượng cao su tự nhiên toàn cầu và là nhà xuất khẩu cao su lớn thứ ba thế giới.

Tuy nhiên, quy mô xuất khẩu chưa phản ánh hoàn toàn sản lượng được sản xuất trong nước, do một phần đáng kể nguyên liệu xuất khẩu có nguồn gốc từ các quốc gia láng giềng.

Năng suất cao su tại Việt Nam, Campuchia và Lào đang dần hội tụ về cùng một vùng, dù xuất phát điểm khác nhau. Theo Kafi, diễn biến này phản ánh quá trình tái phân bổ địa lý của ngành, khi các doanh nghiệp và nông hộ Việt Nam mở rộng diện tích vườn cây sang hai nước láng giềng trong bối cảnh quỹ đất trong nước thu hẹp và chi phí lao động tăng.

Bên cạnh đó, năng suất tại Campuchia và Lào được cải thiện nhờ nguồn vốn, giống và kỹ thuật canh tác từ Việt Nam. Tỷ trọng cao su nhập khẩu từ Campuchia cũng tăng dần và duy trì ở mức cao qua các quý.

Nguồn nguyên liệu từ các vườn cây vệ tinh tại Campuchia và Lào sau đó được đưa trở lại Việt Nam để chế biến và xuất khẩu. Vì vậy, số liệu thương mại của Việt Nam trên thực tế phản ánh một chuỗi sản xuất xuyên biên giới rộng hơn so với quy mô diện tích cao su được trồng trong nước.

Nguồn: Chứng khoán Kafi

Nguồn: Chứng khoán Kafi

Cùng với thay đổi về nguồn nguyên liệu, cơ cấu xuất khẩu cao su cũng có sự dịch chuyển. Tỷ trọng cao su tự nhiên (NR) thuần túy giảm từ khoảng 45% xuống 35%, trong khi cao su hỗn hợp ngày càng chiếm tỷ trọng lớn hơn trong tổng lượng xuất khẩu.

Theo Kafi, điều này cho thấy ngành đang dịch chuyển lên một bậc trong chuỗi giá trị, song sản phẩm xuất khẩu chủ yếu vẫn là cao su hỗn hợp thay vì các sản phẩm chế biến sâu có biên lợi nhuận cao.

Trong khi đó, xuất khẩu NR tiếp tục phụ thuộc lớn vào thị trường Trung Quốc. Sau khi tỷ trọng thị trường này giảm và cơ cấu xuất khẩu trở nên đa dạng hơn trong giai đoạn 2020–2022, xu hướng đã đảo chiều từ năm 2023.

Theo Kafi, tỷ trọng xuất khẩu sang Trung Quốc đã tăng trở lại vùng 40–45%. Khối lượng xuất khẩu sang thị trường này cũng tăng mạnh, trong khi phần còn lại gần như không thay đổi. Do đó, tăng trưởng xuất khẩu cao su gần đây của Việt Nam chủ yếu đến từ thị trường Trung Quốc.

Nguồn: Chứng khoán Kafi

Ở phía nguồn cung, sản lượng mủ cao su khai thác trong nước bắt đầu tăng chậm lại từ năm 2023, sau giai đoạn tăng trưởng mạnh. Trong 6 tháng đầu năm 2026, sản lượng đạt khoảng 440.000 tấn, tăng 3% so với cùng kỳ.

Nguồn: Chứng khoán Kafi

Theo Quyết định 431/QĐ-BNN-TT ngày 26/1/2024, đến năm 2030, diện tích cao su cả nước dự kiến còn 800.000–850.000 ha, giảm khoảng 6–12% so với năm 2024. Trong khi đó, sản lượng mủ cao su thô vẫn được đặt mục tiêu ở mức 1,3–1,5 triệu tấn mỗi năm.

Việc diện tích được định hướng thu hẹp trong khi sản lượng vẫn duy trì mục tiêu cho thấy trọng tâm của ngành chuyển từ mở rộng diện tích sang nâng cao năng suất và hiệu quả khai thác.

Đồng thời, hơn 55% diện tích thu hoạch hiện đã trên 22 năm tuổi, cho thấy cơ cấu vườn cây đang bước vào giai đoạn già hóa. Theo Kafi, nhu cầu tái canh và thanh lý vì vậy sẽ xuất hiện trong những năm tới. Tuy nhiên, do chu kỳ tái canh kéo dài, khả năng bổ sung nhanh nguồn cung từ diện tích mới bị hạn chế, qua đó khiến sản lượng có xu hướng tăng chậm.

Nguồn: Chứng khoán Kafi

Chu kỳ khai thác của cây cao su thường kéo dài khoảng 20–25 năm. Sau giai đoạn khai thác ổn định, năng suất mủ có xu hướng giảm và các vườn cây lớn tuổi có thể được xem xét thanh lý khi hiệu quả khai thác không còn cao.

Nguồn: Chứng khoán Kafi

Dù vậy, việc thanh lý còn phụ thuộc vào tuổi cây, năng suất, mật độ cây, điều kiện vườn và mục đích sử dụng đất. Vì vậy, không phải toàn bộ diện tích trên 20 năm tuổi đều được thanh lý ngay. Một số vườn vẫn có thể tiếp tục khai thác hoặc tái canh tùy theo hiệu quả kinh tế.

Khi vườn cây được thanh lý, giá trị thu được đến từ hai nguồn. Thứ nhất là doanh thu từ bán gỗ cao su, phụ thuộc vào trữ lượng gỗ thương phẩm và giá gỗ tại vườn sau khi trừ chi phí khai thác, vận chuyển.

Thứ hai là phần diện tích được giải phóng để tái canh, qua đó doanh nghiệp có thể thay thế các vườn cây năng suất thấp bằng giống cao sản mới, cải thiện năng suất và hiệu quả khai thác trong chu kỳ tiếp theo.

Nguồn: Chứng khoán Kafi

Quỹ đất cao su mở dư địa khu công nghiệp

Bên cạnh khai thác mủ và tái canh, các doanh nghiệp cao su đang từng bước khai thác giá trị quỹ đất thông qua việc chuyển đổi một phần diện tích sang phát triển khu công nghiệp (KCN).

Theo Kafi, xu hướng này được hỗ trợ bởi định hướng mở rộng không gian công nghiệp tại Đông Nam Bộ, đặc biệt về phía Tây Ninh, phía Bắc Bình Dương và phía Đông Đồng Nai. Đây là những địa bàn tập trung quỹ đất cao su lớn, trong khi nhu cầu phát triển KCN tiếp tục tăng.

Trong giai đoạn 2026–2027, một số dự án dự kiến hoàn tất thủ tục và công tác đền bù, tạo cơ sở để doanh nghiệp từng bước ghi nhận giá trị từ quỹ đất và lợi nhuận liên quan.

Do đặc thù ghi nhận theo tiến độ dự án, nguồn thu từ chuyển đổi quỹ đất có thể tạo ra các khoản lợi nhuận lớn trong những năm doanh nghiệp đủ điều kiện ghi nhận. Tùy nguồn vốn và mô hình triển khai, doanh nghiệp có thể trực tiếp phát triển KCN hoặc hợp tác với các đối tác có năng lực.

Nguồn: Chứng khoán Kafi

Trong bối cảnh Việt Nam tiếp tục mở rộng nền kinh tế và dòng vốn FDI duy trì tích cực, nhu cầu phát triển KCN được thúc đẩy nhằm đáp ứng hoạt động sản xuất.

Lũy kế 8 tháng năm 2026, tổng vốn FDI đăng ký đạt 40,63 tỷ USD, tăng 55,4% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn FDI thực hiện đạt 17,25 tỷ USD, tăng 12% và là mức cao nhất trong 8 tháng của 5 năm qua.

Các địa phương thuộc vùng Đông Nam Bộ tiếp tục thu hút lượng vốn FDI đáng kể. Trong năm 2026, TP HCM, Đồng Nai và Tây Ninh đều ghi nhận dòng vốn mới tích cực.

Nguồn: Chứng khoán Kafi

Theo Cushman & Wakefield, nhu cầu thuê đất KCN tại khu vực phía Nam tiếp tục cải thiện trong quý II/2026, trong bối cảnh các doanh nghiệp FDI mở rộng sản xuất và xu hướng dịch chuyển sang những địa phương còn dư địa phát triển.

Tỷ lệ lấp đầy đất KCN tại các thị trường trọng điểm như TP HCM, Đồng Nai và Tây Ninh duy trì ở mức cao, trong khi quỹ đất tại các khu vực trung tâm ngày càng hạn chế.

Theo đó, nhu cầu phát triển mới có xu hướng mở rộng sang các địa bàn lân cận như Tây Ninh và Đồng Nai. Đây cũng là những khu vực tập trung quỹ đất cao su lớn, qua đó tạo dư địa để các doanh nghiệp trong ngành chuyển đổi một phần diện tích sang phát triển KCN.

Theo Quy hoạch vùng Đông Nam Bộ thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050, công nghiệp được xác định là một trong ba trụ cột phát triển của vùng, gắn với mục tiêu tăng trưởng GRDP bình quân 8,5–9% mỗi năm.

Các doanh nghiệp cao su sở hữu quỹ đất lớn, liền vùng tại những khu vực có tiềm năng phát triển công nghiệp. Theo Kafi, đây là lợi thế về quỹ đất đầu vào so với các chủ đầu tư mới.

Đối với quỹ đất có nguồn gốc từ các doanh nghiệp Nhà nước, quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng và thực hiện các thủ tục đất đai có thể thuận lợi hơn so với việc phát triển dự án trên quỹ đất phân tán, liên quan đến nhiều hộ dân.

Qua đó, quỹ đất hiện hữu có thể hỗ trợ rút ngắn thời gian tạo lập quỹ đất và triển khai các dự án KCN.

Nguồn: Chứng khoán Kafi