Ngân hàng

Nợ xấu ngân hàng: Vẫn còn những 'vùng xám'

Vietnamfinance
· 7 giờ trước
Nợ xấu ngân hàng: Vẫn còn những 'vùng xám'Nam Anh-08/09/2026 15:00 (GMT+7)(VNF) - Tỷ lệ nợ xấu tại 27 ngân hàng niêm yết đã tăng lên 2,01% trong quý II/2026, trong khi bộ đệm dự phòng mỏng dần sau ba quý liên tiếp suy giảm. Song, theo giới phân tích, con số chính thức có thể chưa phản ánh hết rủi ro thực sự khi một số nghiệp vụ tài trợ thương mại đang giúp ngân hàng "né" việc phân loại nợ xấu mà không vi phạm quy định.Áp lực nợ xấu gia tăngBáo cáo “1H 2026 Banking Sector Update” mới đây của S&I Ratings chỉ ra, tỷ lệ nợ xấu tại 27 ngân hàng niêm yết tăng nhẹ từ 1,86% vào cuối năm 2025 lên 2,01% vào cuối quý II/2026, tương đương mức tăng 15 điểm cơ bản, mặc dù gần như đi ngang so với quý I/2026 (2%).Về quy mô, nợ xấu tăng 17,5% trong nửa đầu năm, gần gấp đôi mức tăng 9% của dư nợ tín dụng. Xu hướng nợ xấu phân hóa giữa các nhóm ngân hàng, với sự gia tăng tập trung chủ yếu ở các ngân hàng quốc doanh và các ngân hàng TMCP quy mô lớn, tăng lần lượt 18 và 13 điểm cơ bản so với cuối năm 2025.Trong số đó, Sacombank (tăng 113 điểm cơ bản), BIDV (tăng 36 điểm cơ bản) và HDBank (tăng 35 điểm cơ bản).Tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng tính đến hết quý II/2026.Đáng chú ý, nợ Nhóm 2 - một chỉ báo sớm của nợ xấu, cũng tiếp tục tăng. Tỷ lệ nợ Nhóm 2 tăng 22 điểm cơ bản so với cuối năm ngoái lên 1,38% trong quý 2/2026. Áp lực tập trung chủ yếu ở các ngân hàng TMCP quy mô lớn, trong đó Sacombank và HDBank ghi nhận mức tăng mạnh nhất, lần lượt thêm 191 và 126 điểm cơ bản.Bên cạnh đó, chất lượng tài sản cũng có sự phân hóa rõ rệt tùy thuộc vào danh mục cho vay của từng ngân hàng. Sự tập trung gia tăng nợ xấu và nợ Nhóm 2 tại các ngân hàng có danh mục cho vay đa dạng hơn và tập trung vào cho vay bán lẻ, SME phản ánh điều kiện kinh doanh tiếp tục đầy thách thức, đặc biệt đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, và nhu cầu tiêu dùng chưa phục hồi hoàn toàn trong bối cảnh môi trường lãi suất cao.Cùng với đó, bộ đệm dự phòng tiếp tục thu hẹp, với tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) giảm xuống 79% trong quý II/2026 từ mức 83% vào cuối năm 2025, đánh dấu sự suy giảm trong 3 quý liên tiếp.Sự suy giảm tập trung chủ yếu ở các ngân hàng quốc doanh, trong khi hầu hết các ngân hàng khác duy trì tương đối ổn định. BIDV và VietinBank ghi nhận mức giảm LLR đáng kể, lần lượt từ khoảng 100% xuống 76% và từ 159% xuống 134%. Đáng chú ý, chi phí tín dụng duy trì quanh mức 1,1% trong bối cảnh nợ xấu và nợ Nhóm 2 tăng cao, khiến tỷ lệ bao phủ nợ xấu tiếp tục sụt giảm.Những 'ẩn số' đằng sau sổ sáchNhững con số trên phản ánh phần nợ xấu đã được ghi nhận đúng bản chất trên sổ sách. Nhưng bức tranh chất lượng tài sản của hệ thống ngân hàng không dừng lại ở đó.Trong một chia sẻ mới đây, ông Đỗ Thanh Tùng, Trưởng phòng cao cấp Trung tâm phân tích chứng khoán Rồng Việt (VDSC) còn lưu ý rằng rủi ro L/C (Thư tín dụng), cụ thể là rủi ro liên quan đến nghiệp vụ "mua hẳn miễn truy đòi bộ chứng từ" phát sinh từ L/C cũng cần được xem là một chỉ báo cảnh báo sớm quan trọng về chất lượng tài sản của các ngân hàng.Phân tích sâu hơn, ông Tùng cho hay, theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024, các nghiệp vụ tài trợ thương mại như UPAS L/C (thư tín dụng trả chậm có điều khoản thanh toán ngay) bắt buộc phải tính vào tổng dư nợ cấp tín dụng và chịu sự kiểm soát về hạn mức (room tín dụng).Nhằm giải phóng room tín dụng để tiếp tục tài trợ cho khách hàng, nhiều ngân hàng đã chuyển hướng mạnh mẽ sang nghiệp vụ "mua hẳn miễn truy đòi bộ chứng từ". Số dư của nghiệp vụ này theo quy định hiện hành được loại trừ khỏi dư nợ cấp tín dụng.Về mặt vận hành, ngân hàng sẽ mua lại bộ chứng từ (thường do chính họ phát hành) để trả tiền trước cho nhà cung cấp (bên xuất khẩu), còn người mua (nhà nhập khẩu) được phép trả chậm lại cho ngân hàng theo kỳ hạn thỏa thuận.Quy mô phải thu từ mua hẳn miễn truy đòi BCT theo L/C do chính ngân hàng phát hành theo từng ngân hàng tại quý II/2026. (Theo: VDSC).Số liệu của VDSC chỉ ra, quy mô nhóm ngân hàng có công bố số dư của nghiệp vụ này tăng hơn gấp đôi sau 6 quý, từ khoảng 75.000 tỷ đồng cuối 2024 lên gần 158.000 tỷ đồng tại quý II/2026 - tương đương khoảng 92% mức đỉnh của số dư UPAS L/C giai đoạn 2022. Riêng SHB và Techcombank chiếm gần hai phần ba quy mô toàn nhóm tại thời điểm cuối quý II/2026.Theo ông Đỗ Tùng, mua hẳn miễn truy đòi BCT theo L/C do chính ngân hàng phát hành là hoạt động hợp pháp theo hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, vì không bị tính là dư nợ cấp tín dụng thông thường, các khoản mua hẳn miễn truy đòi này được hạch toán dưới mục "Tài sản có khác" trên bảng cân đối kế toán. Đây là một khoản mục tương đối mơ hồ, nằm ở ranh giới nhạy cảm giữa chất lượng tài sản thực tế và lợi nhuận. Do đó, đây có thể là nơi "né" việc phân loại nợ xấu và trì hoãn trích lập dự phòng.Ông Tùng cũng chỉ ra nếu khoản mục này tăng trưởng đột biến trong một quý so với tốc độ tăng trưởng tín dụng chung của ngân hàng, đó sẽ là một "dấu hiệu cảnh báo đỏ"lớn về độ minh bạch của chất lượng tài sản đó.Mặt khác, đại diện VDSC cũng lưu ý thêm về rủi ro từ lãi dự thu và cơ cấu nợ kỹ thuật.Ông Tùng cho hay, lãi dự thu (khoản lãi ngân hàng ghi nhận trên sổ sách nhưng chưa thực thu được tiền) là ranh giới nhạy cảm giữa chất lượng tài sản và lợi nhuận thực tế.Nếu ngân hàng thực hiện cơ cấu, giãn kỳ hạn trả nợ cho khách hàng thay vì chuyển nhóm nợ, thì nợ xấu và chi phí dự phòng sẽ không xuất hiện ngay, trong khi doanh thu lãi vẫn được ghi nhận đều đặn. Đặc biệt, việc nhiều ngân hàng đẩy mạnh cho vay xây dựng hạ tầng (với mức tăng trưởng dư nợ 40% – 50% tại một số nhà băng), vốn là lĩnh vực dài hạn, chậm tạo ra dòng tiền và có thể làm phình to lượng lãi dự thu này và tiềm ẩn rủi ro trích lập rất lớn nếu các dự án bị chậm tiến độ hoặc gặp khó khăn, ông Tùng nói.