Vĩ mô Việt Nam

Sẵn nguồn vốn 407 nghìn tỷ cho vay ưu đãi với lãi suất thấp hơn 1 - 2%

Vietnamfinance
· 14 giờ trước
Sẵn nguồn vốn 407 nghìn tỷ cho vay ưu đãi với lãi suất thấp hơn 1 - 2%Thanh Trúc-19/09/2026 08:15 (GMT+7)(VNF) - Chỉ sau hơn 1 tháng triển khai, đã có tới 19 ngân hàng công bố sản phẩm ưu đãi cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) với quy mô trên 407 nghìn tỷ đồng cùng lãi suất ưu đãi thấp hơn 1-2%/năm so với lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn.Thông tin tại Hội nghị về tăng cường khả năng tiếp cận vốn tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn cho biết, trong tháng 8, NHNN đã chỉ đạo các ngân hàng thương mại triển khai chương trình tín dụng hướng tới DNNVV và các chủ thể thuộc những lĩnh vực được coi là động lực tăng trưởng: nông nghiệp, nông thôn, công nghiệp hỗ trợ, công nghệ cao, xuất khẩu, kinh tế số, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, chế biến chế tạo và dự án xanh.Sau hơn một tháng, từ 4 ngân hàng thương mại nhà nước đăng ký 220 nghìn tỷ đồng, đã có tới 19 ngân hàng công bố sản phẩm ưu đãi với quy mô trên 407 nghìn tỷ đồng. Lãi suất ưu đãi thấp hơn 1-2%/năm so với lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn.Đơn cử như BIDV dành 25.000 tỷ đồng cho các khoản vay ngắn hạn hướng tới hộ kinh doanh chuyển đổi lên doanh nghiệp, doanh nghiệp xuất nhập khẩu, tham gia chuỗi cung ứng… Vietcombank phát triển gần 2.000 khách hàng DNNVV mới, với doanh số giải ngân 8 tháng đạt gần 10.000 tỷ đồng. Agribank triển khai chương trình tín dụng ưu đãi với quy mô 100.000 tỷ đồng. Hay SHB cung cấp các gói vay với lãi suất từ 6,2%/năm, hạn mức tới 10 tỷ đồng.Cùng với việc triển khai các chương trình tín dụng ưu đãi, các ngân hàng cũng đang tích cực đổi mới cách cho vay, như số hóa, khai thác dữ liệu, cắt giảm thủ tục và thiết kế sản phẩm sát nhu cầu doanh nghiệp hơn.Ở phía nhà điều hành, NHNN cũng đã quy định hệ số rủi ro đối với khoản phải đòi của DNNVV được ở mức 85-90%, thấp hơn mức từ 100% trở lên đối với doanh nghiệp khác, qua đó góp phần tạo điều kiện mở rộng tín dụng cho DNNVV.Kết quả là tính đến 28/8/2026, dư nợ toàn nền kinh tế đạt gần 20,5 triệu tỷ đồng, tăng 10,24% so với cuối năm 2025. Dư nợ DNNVV vượt 4,1 triệu tỷ đồng, tăng 12,4%, do hơn 100 tổ chức tín dụng cung ứng, và chiếm khoảng 20% tổng dư nợ.Tính đến cuối tháng 8, doanh số giải ngân lũy kế từ đầu năm đối với DNNVV đạt trên 3,8 triệu tỷ đồng. Trong cơ cấu dư nợ, lĩnh vực thương mại, dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn nhất, tương đương 70,48%. Riêng bốn ngân hàng thương mại nhà nước có dư nợ khoảng 1,3 triệu tỷ đồng, chiếm 32,6% tổng dư nợ đối với khu vực DNNVV.Tuy nhiên, Thống đốc Phạm Đức Ấn cũng chỉ ra khả năng tiếp cận vốn của DNNVV vẫn còn nhiều điểm nghẽn. Nguyên nhân là do biến động của môi trường kinh tế trong và ngoài nước, yêu cầu quản trị rủi ro của chính ngân hàng, và hạn chế nội tại của doanh nghiệp. Nền tảng của vấn đề là sức chống chịu của DNNVV còn rất yếu, thể hiện ở số doanh nghiệp ngừng hoạt động, giải thể qua các năm vẫn lớn.Để tháo gỡ những điểm nghẽn trên, Thống đốc yêu cầu NHNN tiếp tục rà soát cơ chế chính sách tín dụng, triển khai các chương trình cho nhóm ưu tiên, và nghiên cứu đề án thí điểm phân tích dữ liệu dòng tiền để phục vụ thông tin tín dụng. NHNN Chi nhánh 15 Khu vực giữ vai trò đầu mối nối chính sách tiền tệ, tín dụng với thực tiễn địa phương, đồng thời theo dõi huy động vốn, tăng trưởng tín dụng, lãi suất và khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp.Với các tổ chức tín dụng, Thống đốc yêu cầu tập trung vào cách thẩm định. Ngân hàng cần chủ động nắm nhu cầu vốn, rút ngắn thời gian xét duyệt trong khuôn khổ pháp luật, và nghiên cứu đánh giá tín dụng dựa trên phương án kinh doanh, dòng tiền, lịch sử tín dụng, năng lực quản trị và dữ liệu doanh nghiệp, phù hợp với khả năng kiểm soát rủi ro của từng tổ chức.Muốn vậy, ngân hàng phải cùng các bộ liên quan xây dựng cơ sở dữ liệu khách hàng DNNVV và chia sẻ dữ liệu theo quy định, để từng bước giảm phụ thuộc vào tài sản bảo đảm, chuyển sang đánh giá theo dòng tiền và chuỗi giá trị.Về sản phẩm, ngoài tín dụng truyền thống, các ngân hàng cần phát triển bảo lãnh, bao thanh toán, cho thuê tài chính, tài trợ chuỗi cung ứng và sản phẩm tài chính số, đồng thời công khai đối tượng, điều kiện, quy trình để chính sách thực sự đến được doanh nghiệp.Về giá vốn, ngân hàng phải tiết giảm chi phí, tăng năng suất, đẩy mạnh số hóa để ổn định và phấn đấu giảm lãi suất cho vay, cùng với việc hợp tác với các tổ chức quốc tế để huy động nguồn vốn ưu đãi.