Sửa Luật Khí tượng Thủy văn: Đáp ứng yêu cầu dự báo, cảnh báo, quản trị rủi ro trước bối cảnh mới

Luật Khí tượng Thủy văn là khung pháp lý để quản lý hoạt động khí tượng thủy văn và xác lập rõ vai trò của thông tin khí tượng thủy văn trong hỗ trợ quản trị rủi ro thiên tai. Do đó, Luật cần được thiết kế trên toàn bộ chuỗi từ quan trắc, truyền nhận và quản trị dữ liệu, phân tích, giám sát biến đổi khí hậu đến dự báo, cảnh báo...
Theo kế hoạch dự kiến, dự án luật sẽ được trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội Khóa XVI vào tháng 5/2027.
Luật Khí tượng thủy văn số 90/2015/QH13 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016 đến nay được sửa đổi bổ sung 5 lần trong các luật liên quan, đã tạo hành lang pháp lý quan trọng cho hoạt động khí tượng thủy văn phục vụ quốc gia và người dân.
Tuy nhiên, tại Hội nghị tham vấn chính sách Luật Khí tượng Thủy văn (sửa đổi) do Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức ngày 8/10/2026, đại diện Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết sau hơn 10 năm thực hiện, một số tồn tại, bất cập, hạn chế đã bộc lộ. Đồng thời trước bối cảnh mới của biến đổi khí hậu và yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội, nhiều nội dung của Luật cần được rà soát, sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
HOÀN THIỆN HÀNH LANG PHÁP LÝ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU MỚI
Công tác khí tượng thủy văn đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin, dự báo, cảnh báo phục vụ phòng, chống thiên tai, giảm nhẹ rủi ro thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Trọng Yên, khí tượng thủy văn là lĩnh vực có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác phòng, chống thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo đảm an ninh nguồn nước, phát triển kinh tế- xã hội, quốc phòng, an ninh và phục vụ đời sống nhân dân.
Đặc biệt, trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp như hiện nay, thiên tai cực đoan gia tăng cả về tần suất và cường độ, yêu cầu đối với công tác khí tượng thủy văn ngày càng cao. Điều này đòi hỏi hệ thống pháp luật tiếp tục được hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Thực hiện chỉ đạo của Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư, việc sửa đổi toàn diện Luật Khí tượng Thủy văn trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm phù hợp với bối cảnh hiện nay và xu thế quốc tế. Các quy định mới cần tháo gỡ kịp thời những khó khăn vướng mắc trong thực tiễn, đẩy mạnh chuyển đổi số, tự động hóa, huy động hiệu quả nguồn lực xã hội cho phát triển lĩnh vực khí tượng thủy văn.
Công tác nâng cao năng lực dự báo trong giai đoạn mới cũng phải bảo đảm đồng bộ từ Trung ương đến cấp địa phương, đặc biệt gắn với mô hình chính quyền hai cấp hiện nay, lấy phương châm dự báo từ cơ sở và chủ động phòng ngừa là chính. Các chính sách về khí tượng thủy văn cũng như công tác dự báo phải đảm bảo để phục vụ phát triển kinh tế xã hội một cách bền vững, hạn chế rủi ro…
Nêu những tồn tại, bất cập quy định hiện nay, báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường chỉ rõ qua thực tiễn triển khai, công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động khí tượng thủy văn, đặc biệt trong lĩnh vực đầu tư và quản lý đầu tư, còn tồn tại tình trạng phân tán trong quản lý, đầu tư và khai thác hoạt động khí tượng thủy văn.
Luật hiện hành chưa phân định rõ trách nhiệm quản lý, đầu tư, vận hành và khai thác đối với mạng lưới trạm khí tượng thủy văn phục vụ mục đích chung của quốc gia, bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia với các trạm khí tượng thủy văn chuyên dùng phục vụ nhu cầu riêng của ngành, lĩnh vực, tổ chức, cá nhân. Do đó, cần quy định cụ thể cơ chế phối hợp, chia sẻ dữ liệu, trách nhiệm bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật, kết nối hệ thống và chế độ kiểm tra, giám sát nhằm bảo đảm quản lý thống nhất, đồng bộ, phát huy hiệu quả đầu tư, tránh chồng chéo, trùng lặp trong hoạt động khí tượng thủy văn.
Ngoài ra, Luật hiện hành được xây dựng theo tư duy quản lý truyền thống, chủ yếu dựa vào mạng lưới khí tượng thủy văn quốc gia do Nhà nước đầu tư và vận hành, trong khi trên thực tế đã xuất hiện rất nhiều nguồn dữ liệu khí tượng thủy văn từ doanh nghiệp, tổ chức, cộng đồng và các nền tảng công nghệ số.
Hiện nay, nhiều công trình như thủy điện, điện gió, cảng biển, sân bay, khu nông nghiệp công nghệ cao đã đầu tư hệ thống quan trắc tự động có chất lượng cao; đồng thời các thiết bị IoT, cảm biến thông minh, dữ liệu vệ tinh, dữ liệu cộng đồng và trí tuệ nhân tạo đang phát triển rất nhanh, tạo ra nguồn dữ liệu thời gian thực có giá trị lớn cho dự báo, cảnh báo thiên tai.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu làm gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan, thiên tai diễn biến bất thường và yêu cầu của xã hội đối với thông tin dự báo ngày càng cao. Một trong những bất cập lớn là hệ thống pháp luật hiện hành vẫn chủ yếu được xây dựng theo mô hình quản lý truyền thống, chưa theo kịp sự phát triển nhanh của khoa học công nghệ, dữ liệu số và trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực dự báo khí tượng thủy văn. Luật hiện nay chưa có quy định đầy đủ về khai thác, tích hợp và sử dụng dữ liệu từ các nguồn xã hội hóa, dữ liệu vệ tinh thương mại, dữ liệu cảm biến IoT, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo phục vụ dự báo, cảnh báo.
Một số quy định về cấp phép hoạt động dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn còn nặng về điều kiện hành chính và tiền kiểm, chưa tạo điều kiện cho doanh nghiệp công nghệ, tổ chức khoa học và khu vực tư nhân tham gia cung cấp dịch vụ dự báo khí tượng thủy văn chất lượng cao.
Ngoài ra, pháp luật hiện hành cũng chưa quy định đầy đủ về dự báo tác động, cảnh báo theo rủi ro, cảnh báo đa thiên tai và dịch vụ khí hậu. Đây là xu hướng chủ đạo của thế giới hiện nay theo khuyến nghị của Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO).
Cũng theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, luật hiện hành được xây dựng theo tư duy quản lý truyền thống, chủ yếu dựa trên mô hình quan trắc, dự báo và quản lý dữ liệu theo phương thức tập trung, trong khi thực tiễn hiện nay hoạt động khí tượng thủy văn đang chuyển mạnh sang nền tảng số, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo và kết nối thời gian thực…
ĐỔI MỚI TƯ DUY, THIẾT KẾ LUẬT THEO CHUỖI HOẠT ĐỘNG CỦA NGÀNH KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN
Trước những hạn chế, tồn tại trên, ông Hoàng Đức Cường, Phó Cục trưởng Điều hành Cục Khí tượng Thủy văn nhấn mạnh việc sửa đổi toàn diện Luật Khí tượng Thủy văn là cần thiết, mang tính cấp bách nhằm đáp ứng yêu cầu cao hơn về phòng chống thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu, phát triển kinh tế xã hội và nhu cầu hiện đại hóa ngành.
Ông Cường cho biết có 3 nhóm chính sách lớn được đề xuất trong dự án Luật khí tượng thủy văn (sửa đổi).
Chính sách thứ nhất, hoàn thiện, sửa đổi, bổ sung các quy định về quản lý, khai thác mạng lưới trạm khí tượng thủy văn theo hướng hiện đại, đồng bộ, chuyển đổi từ công nghệ quan trắc truyền thống sang tự động hóa và xã hội hóa nguồn lực đầu tư.
Chính sách thứ hai, hoàn thiện các quy định về công tác dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn phục vụ dự báo tác động; tài nguyên khí hậu.
Chính sách thứ ba, hoàn thiện thể chế huy động, quản lý và phát huy hiệu quả các nguồn lực cho hoạt động khí tượng thủy văn phục vụ phòng chống thiên tai, phát triển kinh tế - xã hội, góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia.
Góp ý dự thảo luật, GS.TS Trần Thục, Chủ tịch Hội Khí tượng Thủy văn Việt Nam thống nhất với ba nhóm chính sách mà cơ quan soạn thảo đề xuất. Tuy nhiên, GS Trần Thục cho rằng nên thiết kế luật theo toàn bộ chuỗi hoạt động của ngành khí tượng thủy văn, đó là quan trắc- truyền nhận và quản trị dữ liệu- phân tích- giám sát biến đổi khí hậu- dự báo, cảnh báo- cung cấp thông tin, dịch vụ khí tượng tuyến văn, dịch vụ khí hậu và cuối cùng hỗ trợ ra quyết định. Luật cần tạo khung pháp lý để quản lý hoạt động khí tượng thủy văn toàn chuỗi, phân định trách nhiệm và kết nối toàn chuỗi thay vì xử lý từng khâu tương đối tách biệt.
Luật khí tượng thủy văn là khung pháp lý để quản lý hoạt động khí tượng thủy văn và xác lập rõ vai trò của thông tin khí tượng thủy văn trong hỗ trợ quản trị rủi ro thiên tai. Vì vậy, luật cần quy định nguyên tắc quyền trách nhiệm cơ chế phối hợp, nghĩa là nghĩa vụ chia sẻ dữ liệu trách nhiệm pháp lý và nguồn thực hiện. Còn phương pháp quan trắc, thuật toán, mô hình, chỉ số, ngưỡng, quy trình dự báo và các công nghệ cần để tiêu chuẩn quy chuẩn quy trình nghiệp vụ hoặc hướng dẫn kỹ thuật điều chỉnh.
Cần làm rõ vai trò của hoạt động khí tượng thủy văn trong quá trình chuyển từ ứng phó thiên tai sang quản trị rủi ro thiên tai. Vai trò trọng yếu là cung cấp thông tin khí tượng thủy văn, cảnh báo sớm, cảnh báo tác động, dữ liệu rủi ro và nền tảng kỹ thuật để cơ quan có thẩm quyền quản trị rủi ro và ra quyết định.
GS Trần Thục nhấn mạnh rằng luật cần được thiết kế trên toàn bộ chuỗi từ quan trắc, truyền nhận tin và những quản lý dữ liệu, phân tích, giám sát biến đổi khí hậu, đến dự báo cảnh báo, cung cấp thông tin, dịch vụ khí tượng thủy văn và dịch vụ khí hậu và cuối cùng là hỗ trợ ra quyết định.
Trong đó, dự báo dựa trên tác động và dịch vụ khí hậu là hai hướng phát triển quan trọng. Tuy nhiên, luật phải giữ đúng vai trò là khung pháp lý để quản lý hoạt động khí tượng thủy văn phân định vai trò và trách nhiệm của chủ thể, huy động nguồn lực, bảo đảm hoạt động khí tượng thủy văn phục vụ quản trị rủi ro thiên tai.
Đề cao tầm quan trọng của thông tin dữ liệu, ông Nguyễn Trung Thắng, Phó viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường đề xuất, cần định vị thông tin, dữ liệu khí tượng thủy văn như một loại hạ tầng kỹ thuật thiết yếu, mang tính chất hàng hóa công cộng. Việc xác lập rõ tính chất này sẽ là căn cứ pháp lý để Nhà nước bảo đảm nguồn lực đầu tư cho ngành.
Tham gia tham vấn chính sách, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Tạ Đình Thi nhấn mạnh việc quán triệt tinh thần đổi mới tư duy trong xây dựng luật. Theo ông Thi, khí tượng thủy văn trước hết là dữ liệu, thông tin. Để có thông tin chính xác, kịp thời, vấn đề quan trọng là khai thác thông tin như thế nào và phục vụ sự phát triển của các ngành, lĩnh vực ra sao; đồng thời công bố thông tin đến các cơ quan quản lý, nơi ra quyết định và người dân. Từ đó, đặt ra yêu cầu chuyển từ tư duy kiểm soát, quản lý sang kiến tạo phát triển trong xây dựng pháp luật, coi thể chế là đòn bẩy nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành.