Chiều 4/11, tiếp chương trình Kỳ họp thứ 2 - Quốc hội khoá XVI, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi).
Các nội dung nâng thời hiệu xử phạt, nâng tối đa mức phạt tiền và sử dụng dữ liệu điện tử thay cho biên bản xử phạt được nhiều đại biểu Quốc hội đóng góp ý kiến.
Thời hiệu 3 năm: Không nên áp dụng cào bằng
Điểm b khoản 1 Điều 6 dự thảo Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi) quy định thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 3 năm đối với 4 nhóm lĩnh vực: quản lý Quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung và cung cấp dịch vụ xếp hạng tín nhiệm; chứng khoán; bảo vệ môi trường; dầu khí và hoạt động khoáng sản. Dự thảo cũng điều chỉnh thời hiệu xử phạt đối với một số nhóm hành vi từ 1 năm lên 2 năm, từ 2 năm lên 3 năm.
Góp ý về nội dung này, đại biểu Bùi Xuân Hải (TP. Hải Phòng) đề nghị cân nhắc việc kéo dài thời hiệu xử phạt đối với một loạt hành vi. Theo đại biểu, cần nâng cao trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước trong phát hiện, xử lý kịp thời vi phạm, thay vì để vụ việc kéo dài.
Giữ thời hiệu ngắn và phù hợp sẽ giúp ổn định các mối quan hệ xã hội, hoạt động sản xuất, kinh doanh; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người vi phạm cung cấp chứng cứ, giải trình về hành vi của mình.
Đại biểu cũng cho rằng mục đích cơ bản của xử phạt hành chính là giáo dục, răn đe để người vi phạm không tái phạm. Nếu xử phạt sau một thời gian khá dài kể từ khi hành vi xảy ra, ý nghĩa này sẽ giảm đi.
Trong khi đó, đại biểu Lương Thị Hoa (Thanh Hóa) cho rằng, việc kéo dài thời hiệu phải có căn cứ tương xứng với đặc điểm từng lĩnh vực, từng nhóm hành vi.
![]() |
Đại biểu Lương Thị Hoa (Thanh Hóa) |
Ví dụ vi phạm giao thông đường bộ được ghi nhận trực tiếp hoặc qua thiết bị kỹ thuật có thể phát hiện, xử lý tương đối nhanh, nếu áp dụng thời hiệu 3 năm trên diện rộng có thể kéo dài tình trạng pháp lý bất lợi của người vi phạm.
Đại biểu đề nghị phân loại thời hiệu theo mức độ phức tạp và khả năng phát hiện hành vi, chỉ giữ thời hiệu 3 năm đối với những lĩnh vực thực sự cần thiết, có đánh giá tác động.
Đồng thời, cần làm rõ thời điểm phát hiện vi phạm bằng hồ sơ kiểm tra, biên bản hoặc dữ liệu kỹ thuật có thể kiểm chứng, phân biệt với thời điểm kết luận xác minh.
Nâng mức phạt tối đa: Phải tính đến khả năng thi hành
Tại Điều 24 và Điều 25, dự thảo đề xuất nâng mức phạt tiền tối đa chung từ 1 tỷ đồng lên 1,5 tỷ đồng đối với cá nhân, từ 2 tỷ đồng lên 3 tỷ đồng đối với tổ chức. Dự thảo cũng quy định mức phạt cao hơn tại địa bàn thành phố đối với một số lĩnh vực theo điều kiện luật định.
Đại biểu Nguyễn Thị Yến Nhi (Vĩnh Long) đồng tình với việc điều chỉnh mức phạt để bảo đảm tính răn đe tương xứng với lợi ích bất hợp pháp mà người vi phạm thu được, nhất là đối với các hành vi gây ô nhiễm môi trường, vi phạm an toàn thực phẩm, phòng cháy, chữa cháy và những lĩnh vực có nguy cơ gây thiệt hại lớn cho cộng đồng.
![]() |
| Đại biểu Nguyễn Thị Yến Nhi (Vĩnh Long) |
Tuy nhiên, đại biểu đề nghị phân biệt giữa tăng mức phạt để tăng tính răn đe và tăng mức phạt nhưng không bảo đảm khả năng thi hành.
Một quyết định xử phạt có mức tiền rất cao nhưng người vi phạm không có khả năng chấp hành hoặc tìm cách né tránh, kéo dài việc thi hành thì mục tiêu quản lý nhà nước vẫn không đạt được.
Từ đó, đại biểu đoàn Vĩnh Long đề nghị khi quy định khung tiền phạt đối với từng lĩnh vực, Chính phủ cần đánh giá tác động trên cơ sở mức độ nguy hiểm của hành vi, lợi ích bất hợp pháp thu được và khả năng thực tế thi hành quyết định xử phạt.
Cùng với tiền phạt, cần ưu tiên áp dụng đồng bộ các biện pháp khắc phục hậu quả như khôi phục tình trạng ban đầu, xử lý ô nhiễm, phá dỡ công trình vi phạm, nộp lại số lợi bất hợp pháp.
Đại biểu Đặng Ngọc Huy (Quảng Ngãi) cũng cho rằng tăng mức phạt chỉ có hiệu quả khi mức phạt đánh trúng nguyên nhân vi phạm và được thi hành trên thực tế. Vi phạm tiếp diễn có thể do không bị phát hiện kịp thời, xử lý thiếu kiên quyết hoặc quyết định xử phạt không được thi hành đến nơi đến chốn. Nếu nguyên nhân nằm ở những khâu này thì nâng mức trần cũng không làm giảm được vi phạm.
![]() |
Đại biểu Đặng Ngọc Huy (Quảng Ngãi) |
Đại biểu đề nghị phân hóa mức phạt theo lỗi, mức độ nguy hiểm và hậu quả của hành vi; đồng thời hoàn thiện cơ chế thu hồi lợi ích bất hợp pháp, khắc phục hậu quả và bảo đảm thi hành quyết định xử phạt.
Với hành vi nhằm thu lợi bất chính, giải pháp căn bản là loại bỏ lợi ích kinh tế từ hành vi vi phạm, thay vì chỉ tăng tiền phạt mà vẫn để người vi phạm giữ phần lớn khoản lợi bất hợp pháp.
Chứng cứ điện tử: Đơn giản hóa thủ tục nhưng phải bảo đảm quyền kiểm tra
Điểm d khoản 1 Điều 44 dự thảo cho phép xử phạt không lập biên bản đối với hành vi vi phạm được phát hiện bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ. Khoản 4 Điều này quy định một số trường hợp không lập biên bản ngay cả khi chưa đủ căn cứ ra quyết định xử phạt hoặc vụ việc thuộc trường hợp giải trình.
Đại biểu Dương Khắc Mai (Lâm Đồng) thống nhất với mục tiêu đơn giản hóa thủ tục, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong xử lý vi phạm hành chính. Tuy nhiên, hình ảnh, dữ liệu thu thập được không phải trong mọi trường hợp đều đủ để xác định chủ thể, tính chất, mức độ và tình tiết của hành vi vi phạm.
![]() |
Đại biểu Dương Khắc Mai (Lâm Đồng) |
Đại biểu nêu ví dụ các vi phạm về trật tự xây dựng, môi trường, đất đai được phát hiện qua flycam, camera giám sát nhưng hiện trạng thực địa chưa rõ ràng hoặc có tranh chấp. Trong trường hợp này, việc bỏ qua biên bản hiện trường là chưa chặt chẽ.
Ông đề nghị chỉ áp dụng thủ tục không lập biên bản đối với vi phạm có tình tiết đơn giản, chứng cứ đủ rõ ràng và đã xác định được cá nhân, tổ chức vi phạm. Trường hợp phải xác minh nhiều tình tiết hoặc ghi nhận hiện trạng thực tế thì vẫn phải lập biên bản.
Đồng thời, khi thông báo vi phạm, cơ quan chức năng cần cung cấp tài liệu, hình ảnh hoặc dữ liệu làm căn cứ xử phạt để cá nhân, tổ chức có điều kiện kiểm tra, giải trình trước khi ban hành quyết định.
Đại biểu Lương Thị Hoa (Thanh Hóa) cũng cho rằng việc có hình ảnh hoặc dữ liệu điện tử không đồng nghĩa đã xác định đầy đủ chủ thể, diễn biến hành vi và các tình tiết liên quan. Việc đơn giản hóa thủ tục phải đi đôi với bảo đảm quyền được biết, quyền kiểm tra chứng cứ và giải trình của cá nhân, tổ chức.
Theo đại biểu, chỉ nên áp dụng thủ tục không lập biên bản khi đã đủ căn cứ xác định hành vi, chủ thể và không phải xác minh hoặc giải trình thêm.
Đại biểu cũng đề nghị bổ sung cách kiểm tra tính toàn vẹn dữ liệu, công khai kết quả kiểm định khi có yêu cầu, thời hạn cung cấp chứng cứ và cơ chế giải quyết.
Bộ trưởng Bộ Công an: Rà soát cả thời hiệu, mức phạt và xử lý vi phạm trên môi trường điện tử
Giải trình về thời hiệu xử phạt, Bộ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang cho biết cơ quan soạn thảo sẽ rà soát, đề xuất chỉ quy định thời hiệu 3 năm đối với các lĩnh vực quản lý Quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung và cung cấp dịch vụ xếp hạng tín nhiệm, chứng khoán, bảo vệ môi trường, dầu khí và hoạt động khoáng sản.
![]() |
Bộ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang |
Đây là những lĩnh vực có một số hành vi vi phạm phức tạp, cần nhiều thời gian xác minh, phân tích, kiểm định, giám định.
Về mức phạt tiền tối đa, Bộ trưởng cho biết cơ quan soạn thảo sẽ rà soát, đề xuất mức phạt theo từng lĩnh vực, phù hợp với tính chất, mức độ, quy mô và hậu quả của hành vi vi phạm.
Cơ quan soạn thảo cũng đề xuất bỏ quy định mức phạt tiền cao hơn nhưng không quá 2 lần mức phạt chung đối với địa bàn thuộc các thành phố, nhằm bảo đảm cùng một hành vi vi phạm được áp dụng thống nhất một khung hình phạt trên phạm vi cả nước.
Đối với xử lý vi phạm hành chính trên môi trường điện tử, Bộ trưởng cho biết, dự thảo đặt ra các điều kiện, yêu cầu đối với xử lý vi phạm trên môi trường điện tử và giá trị pháp lý của thông tin, hình ảnh, dữ liệu điện tử được thu thập hợp pháp.





