Kết quả kinh doanh

Tháo gỡ các vướng mắc để chuyển đổi sang chuỗi giá trị nông nghiệp xanh

Vneconomy
· 16 giờ trước

Các mô hình nông nghiệp xanh, tuần hoàn đang ngày càng được triển khai rộng hơn, nhưng để tạo ra giá trị kinh tế và nâng sức cạnh tranh cho nông sản, cần chuyển từ những thực hành riêng lẻ sang các chuỗi giá trị có tiêu chuẩn thống nhất, dữ liệu kiểm chứng được và cơ chế chia sẻ lợi ích rõ ràng giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân...

Cánh đồng lúa hữu cơ của Hợp tác xã Toản Xuân. Ảnh: Chu Khôii.
Cánh đồng lúa hữu cơ của Hợp tác xã Toản Xuân. Ảnh: Chu Khôii.

Tại hội thảo 'Phát triển nông nghiệp sinh thái xanh, tuần hoàn gắn với bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển nông thôn bền vững' diễn ra chiều 30/9/2026 tại Ninh Bình, đại diện doanh nghiệp, hợp tác xã và hiệp hội ngành hàng đã chia sẻ nhiều mô hình thực tiễn, đồng thời chỉ ra những khoảng trống đang cản trở quá trình chuyển đổi xanh trong nông nghiệp.

TỪ MÔ HÌNH RIÊNG LẺ ĐẾN CHUỖI GIÁ TRỊ ĐỒNG BỘ

Chia sẻ tại hội thảo, ông Trần Quốc Toản, Giám đốc Hợp tác xã Toản Xuân (tỉnh Ninh Bình), cho biết đơn vị đang chuyển từ phương thức sản xuất phụ thuộc nhiều vào đầu vào hóa học sang tăng cường thực hành tuần hoàn trong chuỗi lúa gạo, với trọng tâm là phục hồi đất và đưa phụ phẩm trở lại phục vụ sản xuất.

Theo đó, trấu được ép viên làm nhiên liệu sấy và cung cấp cho các cơ sở sử dụng năng lượng sinh khối. Một phần trấu được đưa đến các trang trại chăn nuôi làm đệm lót sinh học; nguồn phân sau đó được thu hồi, xử lý thành phân hữu cơ phục vụ vùng nguyên liệu. Rơm rạ và các phụ phẩm khác cũng được thu gom, tận dụng thay vì bỏ phí.

"Việc thay thế than bằng trấu ép viên giúp chi phí sấy giảm từ khoảng 80.000 đồng xuống còn 50.000 đồng/tấn thóc. Việc tái sử dụng phụ phẩm không chỉ giảm chất thải, mà còn giúp chuỗi sản xuất chủ động hơn về đầu vào và tiết giảm chi phí", ông Toản nhấn mạnh.

Năm 2026, Hợp tác xã Toản Xuân tiếp tục xây dựng vùng lúa hữu cơ sinh thái tập trung tại khu vực bãi bồi xã Giao Minh, tỉnh Ninh Bình, hướng tới đáp ứng tiêu chuẩn USDA Organic. Mô hình chú trọng điều tiết nước, mật độ cấy phù hợp, bảo vệ sinh vật bản địa và hạn chế tác động đến hệ sinh thái.

Từ thực tế sản xuất, hợp tác xã đề nghị có thêm chính sách hỗ trợ xây dựng vùng nguyên liệu, thu gom và xử lý phụ phẩm, tiếp cận chứng nhận cũng như duy trì liên kết lâu dài với nông dân.

LIÊN KẾT CHƯA ĐỒNG NGHĨA VỚI CHUỖI XANH

Tại hội thảo, các ý kiến cũng cho rằng nông nghiệp tuần hoàn có thể bắt đầu từ những thực hành ở quy mô hộ gia đình, sau đó kết nối các mô hình nhỏ thông qua hợp tác xã.

Từ góc độ tổ chức chuỗi giá trị, PGS.TS Nguyễn Thị Xuân Thu, Phó Chủ tịch Hiệp hội Chuyển đổi Xanh Việt Nam, nhận định quy mô liên kết sản xuất đã có bước tiến đáng kể, nhưng 'liên kết sản xuất' chưa đồng nghĩa với 'chuỗi giá trị xanh'.

VnEconomy

Đến hết năm 2025, cả nước đã phê duyệt 2.938 dự án, kế hoạch liên kết chuỗi giá trị nông sản, thu hút 1.305 doanh nghiệp, 2.412 hợp tác xã, 538 tổ hợp tác và hơn 211.000 hộ nông dân tham gia. Tuy nhiên, nhiều hợp đồng hiện vẫn mang tính mua đứt - bán đoạn, thiếu ràng buộc về trách nhiệm sinh thái và dễ bị phá vỡ khi giá thị trường biến động".

PGS.TS. Nguyễn Thị Xuân Thu Phó Chủ tịch Hiệp hội Chuyển đổi Xanh Việt Nam.
PGS.TS. Nguyễn Thị Xuân Thu

Qua phân tích 13 trường hợp doanh nghiệp và hợp tác xã, nghiên cứu cho thấy sự khác biệt đáng kể về năng lực. Doanh nghiệp lớn có lợi thế về vốn, công nghệ và thị trường nhưng vẫn gặp khó khăn trong quản trị tác động môi trường trên toàn chuỗi. Trong khi đó, nhiều hợp tác xã đã có các thực hành tận dụng phụ phẩm, tiết kiệm tài nguyên tại chỗ nhưng thiếu dữ liệu và công cụ để chứng minh kết quả.

Một số mô hình đang cho thấy tiềm năng rõ rệt. Đơn cử, Chương trình NESCAFÉ Plan của Nestlé liên kết hơn 23.000 nông hộ, hỗ trợ tái canh 86.000 ha cà phê, tiết kiệm 40-60% nước tưới và giảm 20% phân bón hóa học. Vinamilk có 3 đơn vị đạt chứng nhận trung hòa carbon, đặt mục tiêu giảm phát thải 15% vào năm 2027, 55% vào năm 2035 và hướng tới Net Zero năm 2050.

TTC AgriS phát triển kinh tế tuần hoàn trong ngành mía đường thông qua tận dụng bã mía phát điện, mật rỉ sản xuất cồn và bã bùn làm phân hữu cơ. Lộc Trời tổ chức chuỗi lúa gạo từ giống, vật tư, dịch vụ nông nghiệp đến chế biến và thị trường; Minh Phú phát triển các mô hình tôm - rừng, tôm - lúa kết hợp công nghệ sinh học; Nafoods đẩy mạnh chế biến sâu và tận dụng phụ phẩm; TH phát triển chuỗi sữa khép kín gắn với xử lý chất thải và năng lượng.

Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra khoảng cách đáng kể giữa một thực hành xanh và một chuỗi giá trị xanh hoàn chỉnh. Chẳng hạn, chuỗi cà phê cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống MRV Scope 3 (Đo lường, Báo cáo và Thẩm định, áp dụng cho lượng phát thải gián tiếp nằm ngoài tầm kiểm soát trực tiếp của doanh nghiệp) được kiểm toán độc lập; chuỗi sữa cần phân biệt giữa chứng nhận trung hòa carbon tại một số cơ sở với mục tiêu Net Zero của toàn chuỗi.

NĂM KHOẢNG TRỐNG CẦN THÁO GỠ

Từ thực tiễn phân tích, bà Thu chỉ ra 5 khoảng trống cấu trúc cần tiếp tục được giải quyết.

Thứ nhất: Khoảng trống đo lường xanh (Green Gap), tức khoảng cách giữa thực hành canh tác sinh thái và khả năng lượng hóa bằng các chỉ số như phát thải CO2, lượng nước sử dụng hay tỷ lệ tuần hoàn vật chất.

Thứ hai: Khoảng trống quy mô (Scale Gap), thể hiện ở khoảng cách giữa những mô hình thí điểm thành công và khả năng nhân rộng do hạn chế về vốn, suất đầu tư và tình trạng đất đai phân tán.

Thứ ba: Khoảng trống liên kết chuỗi (Value-chain Gap), từ các hợp đồng mua bán thông thường đến một chuỗi giá trị xanh có trách nhiệm môi trường và cơ chế chia sẻ rủi ro.

Thứ tư: Khoảng trống số hóa phục vụ MRV (Digital–MRV Gap), khi công nghệ được ứng dụng nhưng chưa hình thành hệ thống đo lường, báo cáo và thẩm tra, xác minh đạt chuẩn.

Thứ năm: Khoảng trống chia sẻ giá trị (Value-sharing Gap), khi nông dân phải gánh nhiều rủi ro và chi phí chuyển đổi nhưng chưa được hưởng tương xứng từ giá trị gia tăng của sản phẩm xanh.

Để thu hẹp các khoảng trống, bà Thu đề xuất 3 nhóm chính sách ưu tiên.

Một là hoàn thiện khung hợp đồng liên kết chuỗi gắn với trách nhiệm sinh thái và chia sẻ giá trị, rủi ro. Hợp đồng cần có cơ chế giá sàn, thưởng đối với sản phẩm xanh, quy định quyền khai thác dữ liệu, phân chia chi phí chứng nhận và xử lý rủi ro thiên tai.

Hai là chuẩn hóa dữ liệu tối thiểu và cơ chế xác nhận kết quả xanh. Bộ dữ liệu cần bao gồm vùng nguyên liệu, vật tư đầu vào, nước, năng lượng và phụ phẩm, đồng thời phân định rõ trách nhiệm giữa nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp và cơ quan quản lý.

Ba là phát triển các công cụ tài chính theo kết quả và chuẩn bị thực thi Quyết định 46/2026/QĐ-TTg. Các giải pháp được đề xuất gồm hỗ trợ chi phí đánh giá dự án xanh, phát triển tín dụng chuỗi dựa trên dữ liệu được kiểm chứng và thí điểm tại 2-3 chuỗi ngành hàng trong 2-3 vụ sản xuất.