Thiếu dữ liệu, ngân hàng khó đẩy mạnh tín dụng xanh
Vietnamfinance
· 9 giờ trước
Thiếu dữ liệu, ngân hàng khó đẩy mạnh tín dụng xanhThanh Trúc-15/09/2026 12:00 (GMT+7)(VNF) - Chỉ khi có dữ liệu được chuẩn hoá về ESG và rủi ro khí hậu, ngân hàng mới có thể chuyển từ thẩm định dựa vào tài sản bảo đảm sang thẩm định dựa trên dòng tiền và hiệu quả môi trường thực chất.Tín dụng xanh: Tăng trưởng nhưng vẫn còn hạn chếSau gần một thập kỷ triển khai, tín dụng xanh tại Việt Nam đã tăng trưởng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng chung. Năm 2017 – năm đầu triển khai, khoảng 15 tổ chức tín dụng tham gia cho vay xanh với dư nợ khoảng 180 nghìn tỷ đồng. Đến cuối quý I/2026, tín dụng xanh đạt tổng dư nợ 828 nghìn tỷ đồng, tăng gấp 4,6 lần so với dư nợ năm 2017.Về cơ cấu tín dụng xanh, dư nợ tập trung chủ yếu ở lĩnh vực nông, lâm, thủy sản (chiếm trên 32%) và năng lượng xanh (chiếm trên 30%). Trong khi đó, xây dựng xanh, giao thông xanh, kinh tế tuần hoàn, công nghiệp chế biến chế tạo xanh và dịch vụ môi trường có tỷ trọng còn khiêm tốn.Trong trao đổi với Tạp chí Đầu tư Tài chính - VietnamFinance, TS Nguyễn Hà Phương, Viện Nghiên cứu Châu Á- Thái Bình Dương, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam nhận định, ngân hàng xanh và tín dụng xanh tại Việt Nam đã chuyển từ giai đoạn khởi tạo chính sách sang giai đoạn mở rộng quy mô và chuẩn hóa chất lượng. Tăng trưởng dư nợ xanh trong những năm gần đây cho thấy hệ thống ngân hàng có khả năng đóng vai trò quan trọng trong chuyển dịch dòng vốn sang các lĩnh vực ít phát thải và có lợi ích môi trường.Tuy nhiên, bà Phương cũng cho rằng quy mô tín dụng xanh so với tổng tín dụng vẫn còn hạn chế do vẫn còn vướng mắc ba nhóm rào cản chính.Nhóm rào cản đầu tiên là về nền tảng đo lường và dữ liệu. Danh mục phân loại xanh quốc gia đã được ban hành, song hiệu quả thực thi còn phụ thuộc vào hướng dẫn kỹ thuật, năng lực xác nhận độc lập và khả năng tích hợp tiêu chí xanh vào quy trình tín dụng nội bộ. “Khi tiêu chí môi trường chưa được lượng hóa nhất quán ở cấp dự án, ngân hàng khó thẩm định lợi ích môi trường hay kiểm soát sử dụng vốn sau giải ngân. Vấn đề càng trầm trọng hơn khi phần lớn doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, chưa có hệ thống báo cáo phát thải, năng lượng hay chuỗi cung ứng đủ tin cậy để ngân hàng đánh giá rủi ro”, bà nói.Nhóm rào cản thứ hai là về năng lực tổ chức. Theo TS Nguyễn Hà Phương, phát triển tín dụng xanh không chỉ là mở rộng danh mục cho vay, mà đòi hỏi thay đổi cả mô hình quản trị rủi ro, quy trình phê duyệt, năng lực cán bộ và hệ thống công nghệ của ngân hàng - những yếu tố cần thời gian và nguồn lực để chuyển đổi đồng bộ.Nhóm rào cản cuối cùng liên quan đến kinh tế - tài chính của dự án. Nhiều dự án xanh có thời gian hoàn vốn dài, chi phí đầu tư ban đầu lớn và dòng tiền phụ thuộc nhiều vào chính sách giá hay trợ cấp, khiến ngân hàng thường yêu cầu tài sản bảo đảm cao hơn hoặc áp lãi suất rủi ro lớn hơn. Đồng thời, nhu cầu vốn trung dài hạn của các dự án này lại lệch pha với nguồn vốn huy động của ngân hàng thương mại, vốn bị ràng buộc bởi kỳ hạn và giới hạn an toàn thanh khoản. Nếu thiếu các nguồn tái cấp vốn, bảo lãnh hay đồng tài trợ từ định chế phát triển, ngân hàng khó giảm sâu lãi suất để tạo lợi thế thực sự cho tín dụng xanh.Khơi thông dòng vốn xanhTrong hành trình hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai chữ số, tăng trưởng xanh không còn là một lựa chọn song song mà đã trở thành điều kiện không thể tách rời. Tuy vậy, để dòng vốn xanh thực sự được khơi thông, Việt Nam vẫn còn nhiều việc phải làm.Theo TS Nguyễn Hà Phương, điểm khởi đầu của mọi giải pháp là chuyển từ hoàn thiện khung chính sách sang chuẩn hóa thực thi. Danh mục phân loại xanh cần được cụ thể hóa bằng hướng dẫn kỹ thuật theo từng ngành, cơ chế xác nhận độc lập và giám sát sau cấp tín dụng. Nền tảng này chỉ phát huy tác dụng khi đi kèm một hệ thống dữ liệu quốc gia về ESG và khí hậu đủ tin cậy, do Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng phối hợp xây dựng.“Khi dữ liệu được tích hợp vào xếp hạng tín dụng và định giá rủi ro, ngân hàng mới có thể chuyển từ thẩm định dựa vào tài sản bảo đảm sang thẩm định dựa trên dòng tiền và hiệu quả môi trường thực chất thay vì cấp tín dụng theo nhãn mác hình thức”, bà Phương nói.Trên nền tảng dữ liệu và tiêu chí đã rõ ràng, các cơ chế ưu đãi mới có cơ sở để thiết kế đúng nguyên tắc quản trị rủi ro: ưu đãi lãi suất, bảo lãnh hay tái cấp vốn xanh cần gắn với tiêu chí minh bạch, có kiểm chứng, thay vì hạ chuẩn an toàn vốn một cách cơ học. Đồng thời, bà Phương nhận định, tín dụng ngân hàng không thể là kênh duy nhất tài trợ cho các dự án hạ tầng năng lượng, giao thông hay công trình xanh có quy mô vốn lớn mà cần phát triển song song thị trường vốn xanh như trái phiếu xanh, quỹ đầu tư hạ tầng, vốn hỗn hợp quốc tế như sáng kiến JETP (mục tiêu huy động 15,5 tỷ USD) để san sẻ gánh nặng vốn dài hạn.Khi hạ tầng chính sách, dữ liệu và nguồn vốn đã sẵn sàng, dư địa tăng trưởng tiếp theo nằm ở việc mở rộng phạm vi tín dụng xanh ra ngoài hai lĩnh vực đã bão hòa là năng lượng tái tạo và nông nghiệp xanh sang các phân khúc có khả năng nhân rộng cao như hiệu quả năng lượng công nghiệp, công trình xanh, giao thông điện hóa hay kinh tế tuần hoàn. “Việc mở rộng này đòi hỏi năng lực chuyên môn tương ứng: mỗi ngân hàng cần hình thành khung quản trị rủi ro khí hậu ở cấp hội đồng quản trị và đào tạo cán bộ tín dụng theo thông lệ quốc tế, như hướng dẫn tại Sổ tay quản lý rủi ro môi trường - xã hội do NHNN phối hợp IFC ban hành năm 2025”, bà Phương dẫn chứng.Cuối cùng, toàn bộ hệ thống giải pháp trên sẽ khó phát huy hiệu quả nếu bỏ qua nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa - nơi có nhu cầu chuyển đổi lớn nhất nhưng lại thiếu dữ liệu, tài sản bảo đảm và năng lực lập hồ sơ nhất. Vì vậy, cần có cơ chế riêng như tín dụng xanh theo chuỗi cung ứng, cho vay dựa trên hóa đơn, bảo lãnh từ quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, cùng hỗ trợ chi phí kiểm toán năng lượng và tư vấn ESG để dòng vốn xanh không chỉ tập trung ở nhóm doanh nghiệp lớn đã sẵn sàng.Từ góc nhìn doanh nghiệp, bà Nguyễn Thị Nga, Quyền Chủ tịch Hội Doanh nhân Tư nhân Việt Nam, Chủ tịch Tập đoàn BRG, cho rằng danh mục phân loại tín dụng xanh quốc gia cần được triển khai thống nhất và sớm hơn, với hướng dẫn cụ thể về hồ sơ, quy trình xác nhận, cơ chế cập nhật thay vì để doanh nghiệp và ngân hàng mỗi nơi hiểu một kiểu. Song song đó, cần tính đến các công cụ “tiếp sức” cho tổ chức tín dụng như tái cấp vốn ưu đãi, cơ chế chia sẻ rủi ro và huy động vốn dài hạn cả trong nước lẫn quốc tế.Tiếp đến là hoàn thiện cơ chế hỗ trợ lãi suất 2%/năm từ ngân sách Nhà nước cho doanh nghiệp và hộ kinh doanh đầu tư vào dự án xanh, kinh tế tuần hoàn. Tuy nhiên, bà Nga cũng chỉ ra, ưu đãi là chưa đủ, chính sách cần đi kèm “luật chơi” rõ ràng về đối tượng thụ hưởng, tiêu chí, nguồn kinh phí, thời hạn và cơ chế giám sát cụ thể, để dòng tiền hỗ trợ đến đúng nơi, đúng người, không bị trục lợi.Cùng với đó, Ngân hàng Nhà nước cần bắt tay chặt chẽ hơn với các bộ, ngành, địa phương, hiệp hội và tổ chức tín dụng trong tuyên truyền, đào tạo, đồng hành cùng doanh nghiệp, đặc biệt là nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa vốn đang loay hoay tìm hướng xây dựng phương án chuyển đổi xanh cho riêng mình, lãnh đạo SeABank nhấn mạnh.