Vĩ mô Việt Nam

Thông tư 50 không 'bơm' thêm tiền vào hệ thống, lãi suất vẫn khó hạ nhiệt

Vietnamfinance
· 18 giờ trước

Vừa qua, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành Thông tư 50, trong đó nâng trần tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) lên 95% thay vì mức 85% như hiện hành.

Theo Chứng khoán BSC, việc nới lỏng giới hạn này được kỳ vọng giải tỏa bớt áp lực huy động vốn cho hệ thống các tổ chức tín dụng, đồng thời mở thêm dư địa để mở rộng hoạt động cấp tín dụng và hỗ trợ bảo vệ biên lãi thuần (NIM).

Trong khi đó, liên quan đến vấn đề này, ông Trần Tuấn Minh, Chuyên gia tư vấn, Chứng khoán SSI, nhận định thực chất đây là một cách tính mới đối với tỷ lệ LDR đi kèm với lộ trình áp dụng đến tận cuối năm 2028 cùng với tỷ lệ LCR và NSFR. Trong ngắn hạn (trước năm 2026), các ngân hàng có quyền lựa chọn áp dụng sớm Thông tư 50 hoặc duy trì theo Thông tư 22 (LDR 85%). Theo chuyên gia SSI, khả năng cao, phần lớn các ngân hàng sẽ tiếp tục áp dụng Thông tư 22.

'Nếu nhìn vào con số tuyệt đối, việc nới biên độ lên 10% trên nền tín dụng toàn hệ thống hơn 20 triệu tỷ đồng được nhiều người kỳ vọng sẽ có hơn 2 triệu tỷ đồng được bơm ra nền kinh tế. Tuy nhiên, nhận định này là hoàn toàn sai lệch', ông Minh nói.

Ông Trần Tuấn Minh, Chuyên gia tư vấn, Chứng khoán SSI.

Nguyên nhân cốt lõi, theo vị chuyên gia này, là do việc nâng trần lên 95% đi kèm với quy định loại trừ rất nhiều khoản mục khỏi mẫu số (tiền gửi). Trước đây các ngân hàng có thể dùng tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác (vay liên ngân hàng) hoặc phát hành giấy tờ có giá để làm "trọng số" tăng dư địa cho vay.

'Nhưng với Thông tư mới, ngân hàng chỉ được tính hiệu số (phần chênh lệch giữa đi vay và cho vay liên ngân hàng). Việc cắt gọt các khoản mục vốn được dùng để ‘lách’ luật này khiến tỷ lệ 95% mới thực tế còn khắt khe hơn cả mức 85% cũ', ông nói.

Do đó, việc điều chỉnh tỷ lệ LDR theo Thông tư 50 được cho là không tạo ra thêm nguồn cung VND và không có tác dụng làm hạ nhiệt mặt bằng lãi suất hiện nay.

Ông Trần Tuấn Minh chỉ ra, bản chất vấn đề hiện nay không nằm ở tỷ lệ LDR mà là sự thiếu hụt nguồn cung VND thực tế trong hệ thống. Dòng tiền hiện đang ứ đọng tại hai kênh gồm Kho bạc Nhà nước và tiền mặt lưu thông ngoài hệ thống do yếu tố tâm lý rút tiền giao dịch vàng hoặc lo ngại thuế.

'Để lãi suất thực sự hạ nhiệt, cần có các điều kiện sau, bao gồm Kho bạc cần đẩy mạnh giải ngân nhanh hơn tốc độ thu thuế; tiền mặt quay trở lại hệ thống ngân hàng và các tập đoàn lớn thu được dòng tiền thực tế từ việc bán bất động sản để giảm bớt nhu cầu vay vốn', ông Minh lưu ý.

Dù vậy, theo ông Minh, kỳ vọng mặt bằng lãi suất hạ sâu xuống mức 6-7% là điều bất khả thi bởi Việt Nam đang phải đối mặt với những áp lực ngoại biên cực lớn.

Thứ nhất, lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ kỳ hạn 10 năm đã vượt mốc 5,35%. Tính từ mức 4,5% hồi tháng 6, mức tăng 0,8% này tương đương với 3 lần Fed nâng lãi suất. Nếu tính từ đầu năm, mức tăng hơn 1% tương đương 4-5 lần Fed tăng lãi suất. Động lực đằng sau không phải là khủng hoảng kinh tế mà là nhu cầu đầu tư khổng lồ vào hạ tầng AI và sản xuất tại Mỹ. Lợi suất này đã phản ánh rủi ro thị trường, do đó, việc Fed có tăng thêm lãi suất trong kỳ họp tới hay không cũng không còn nhiều ý nghĩa.

Thứ hai, giá dầu Brent tiếp tục neo trên 100 USD/thùng trong bối cảnh nguồn cung thắt chặt. Việc miễn giảm thuế phí xăng dầu trong nước đã kéo dài đến hết năm. Rủi ro lạm phát chi phí đẩy khiến NHNN không có lý do để bơm tiền mạnh tay, nhất là khi các số liệu tăng trưởng kinh tế vẫn rất khả quan (PMI duy trì trên 50 điểm trong 15 tháng liên tiếp; GDP quý III của TP.HCM tăng gần 10%). Theo ông Minh, chính sách tiền tệ từ nay đến cuối năm chắc chắn sẽ duy trì sự thận trọng.