Thúc đẩy thu hồi, tái chế môi chất lạnh, góp phần bảo vệ tầng ozone
Vneconomy
· 7 giờ trước
Việt Nam đang hoàn thiện khung pháp lý và đẩy mạnh các giải pháp quản lý môi chất lạnh theo Nghị định thư Montreal và Bản sửa đổi, bổ sung Kigali, hướng tới thu hồi, tái chế xuyên suốt vòng đời thiết bị, góp phần bảo vệ tầng ozone và giảm phát thải khí nhà kính...
Kỹ thuật viên tại Daikin thu gom môi chất lạnh trong hệ thống điều hòa trung tâm. Ảnh: Minh Huy
Sáng ngày 23/10/2026, Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội thảo phổ biến quy định pháp luật và Kế hoạch quốc gia về quản lý, loại trừ các chất được kiểm soát theo Nghị định thư Montreal. Các đại biểu tập trung trao đổi về kết quả thực hiện các cam kết quốc tế, quy định quản lý môi chất lạnh và giải pháp mở rộng mạng lưới thu gom, tái chế nhằm hạn chế phát thải ra môi trường.
ĐẨY MẠNH QUẢN LÝ CÁC CHẤT LÀM SUY GIẢM TẦNG ÔZNE
Phát biểu tại hội thảo, ông Bùi Đức Hiếu, Phó Cục trưởng Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cho biết Nghị định thư Montreal thông qua năm 1987, được đánh giá là một trong những điều ước quốc tế về môi trường thành công nhất. Trên phạm vi toàn cầu, khoảng 99% lượng tiêu thụ các chất làm suy giảm tầng ozone đã được loại trừ.
"Những kết quả này không chỉ góp phần bảo vệ tầng ozone mà còn mang lại lợi ích đáng kể trong ứng phó với biến đổi khí hậu," ông Hiếu nói.
Ông Bùi Đức Hiếu, Phó Cục trưởng Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, phát biểu tại hội thảo. Ảnh: Minh Huy
Năm 2016, Bản sửa đổi, bổ sung Kigali được thông qua, đưa các chất HFC (hydrofluorocarbon) có tiềm năng gây nóng lên toàn cầu cao vào lộ trình kiểm soát, giảm dần. Năm 2026 đánh dấu 10 năm văn kiện này được thông qua, đồng thời khẳng định vai trò của Nghị định thư Montreal trong thúc đẩy chuyển đổi công nghệ, sử dụng môi chất lạnh thân thiện với khí hậu, nâng cao hiệu quả năng lượng và phát triển các giải pháp làm mát bền vững.
Việt Nam tham gia Công ước Vienna và Nghị định thư Montreal từ năm 1994, phê chuẩn Bản sửa đổi, bổ sung Kigali năm 2019. Trong hơn 30 năm qua, Việt Nam đã đạt được những kết quả quan trọng trong quản lý, loại trừ các chất làm suy giảm tầng ozone, thực hiện lộ trình kiểm soát HCFC (hydrochlorofluorocarbon) và triển khai các biện pháp giảm dần tiêu thụ HFC (hydrofluorocarbon).
Công tác quản lý các chất được kiểm soát đang từng bước mở rộng từ quản lý nhập khẩu, tiêu thụ và loại trừ sang quản lý toàn bộ vòng đời, bao gồm sử dụng, thu gom, thu hồi, tái chế, tái sinh, tái sử dụng và xử lý các chất từ sản phẩm, thiết bị. Đây là định hướng nhằm hạn chế phát thải ra môi trường, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên, đồng thời thúc đẩy chuyển đổi công nghệ và phát triển các dịch vụ kỹ thuật phù hợp với xu hướng kinh tế tuần hoàn.
Theo thống kê của Ban Thư ký ozone, tính đến tháng 8/2026, các hoạt động quản lý, loại trừ các chất được kiểm soát tại Việt Nam đã góp phần cắt giảm khoảng 260 triệu tấn CO₂ tương đương.
Cùng với việc thực hiện các cam kết quốc tế, Việt Nam từng bước hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về bảo vệ tầng ô-dôn và quản lý các chất được kiểm soát. Các quy định được thể hiện trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, Nghị định 06/2022/NĐ-CP và các nghị định sửa đổi, bổ sung cùng văn bản hướng dẫn thi hành.
Đặc biệt, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Kế hoạch quốc gia về quản lý, loại trừ các chất làm suy giảm tầng ozone, chất gây hiệu ứng nhà kính được kiểm soát tại Quyết định 496/QĐ-TTg ngày 11/6/2024.
Bà Nguyễn Đặng Thu Cúc, Phó trưởng Phòng Quản lý phát thải khí nhà kính và Bảo vệ tầng ô-dôn, Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cho biết Việt Nam đã loại trừ hoàn toàn các chất CFC, CTC và Halon; methyl bromide hiện chỉ được sử dụng trong hoạt động khử trùng và kiểm dịch hàng hóa. Các biện pháp kiểm soát cũng giúp giảm tiêu thụ hơn 7 triệu tấn ODP, tương đương giảm phát thải hơn 57 triệu tấn CO₂ tương đương.
Việt Nam bắt đầu thực hiện lộ trình ngừng tiêu thụ HCFC ở mức cơ sở từ năm 2013, với mức cơ sở 221,2 tấn ODP.
Theo lộ trình, mức tiêu thụ HCFC được cắt giảm 10% trong giai đoạn 2015-2019, giảm 35% trong giai đoạn 2020-2024, giảm 67,5% trong giai đoạn 2025-2029 và giảm 97,5% trong giai đoạn 2030–2039, tiến tới loại trừ hoàn toàn vào năm 2040. Quá trình kiểm soát HCFC giúp giảm tiêu thụ 3,9 triệu tấn ODP, tương đương giảm phát thải 122 triệu tấn CO₂ tương đương.
Đối với nhóm HFC, Việt Nam thực hiện lộ trình cắt giảm theo từng giai đoạn. Trong giai đoạn 2024-2028, mức tiêu thụ được duy trì ở mức cơ sở, tương đương 13,9 triệu tấn CO₂. Giai đoạn 2029-2034, mức tiêu thụ giảm 10%, còn 12,5 triệu tấn CO₂; giai đoạn 2035-2039 giảm 30%, còn 9,7 triệu tấn CO₂; giai đoạn 2040-2044 giảm 50%, còn 6,9 triệu tấn CO₂.
Từ năm 2045, Việt Nam đặt mục tiêu giảm 80% mức tiêu thụ HFC, xuống còn 2,7 triệu tấn CO₂ tương đương. Tổng mức giảm tiêu thụ theo lộ trình này là 11,2 triệu tấn CO₂ tương đương.
NÂNG CAO HIỆU QUẢ THU GOM, TÁI CHẾ MÔI CHẤT LẠNH
Theo bà Bùi Huyền Thương, chuyên gia kỹ thuật, Công ty Cổ phần Tư vấn năng lượng và Môi trường (VNEEC), hiện nay, việc quản lý môi chất lạnh tại Việt Nam được triển khai qua năm giai đoạn trong vòng đời thiết bị, từ nhập khẩu, sản xuất môi chất và thiết bị; lắp đặt, nạp môi chất ban đầu; vận hành, bảo dưỡng; thải bỏ thiết bị đến tái chế, tiêu hủy.
Trong đó, hoạt động nhập khẩu, sản xuất đã được kiểm soát thông qua hạn ngạch, đăng ký và báo cáo, còn khâu lắp đặt, nạp môi chất mới được kiểm soát một phần.
Tuy nhiên, quá trình vận hành, bảo dưỡng và tháo dỡ thiết bị vẫn tiềm ẩn nguy cơ thất thoát môi chất lớn, trong khi hoạt động thu gom, tái chế và tiêu hủy mới được triển khai ở quy mô nhỏ. Theo thống kê, tỷ lệ thu gom môi chất lạnh từ thiết bị hết vòng đời hiện dưới 0,1%, khiến phần lớn lượng môi chất còn lại trong thiết bị khi thải bỏ có nguy cơ bị phát tán trực tiếp ra khí quyển.
Theo số liệu từ VNEEC, năm 2024, điều hòa không khí dân dụng chiếm 51% tổng khối lượng môi chất lạnh được sử dụng tại Việt Nam và đóng góp 44% lượng phát thải quy đổi CO₂ tương đương. Trong khi đó, lĩnh vực lạnh công nghiệp chỉ chiếm 16% khối lượng môi chất lạnh nhưng chiếm tới 24% lượng phát thải, tương đương 20,5 triệu tấn CO₂. Mức phát thải này có liên quan đến việc sử dụng các môi chất có tiềm năng gây nóng lên toàn cầu cao như R22 (GWP 1.810) và R404A (GWP 3.922). Đối với lĩnh vực lạnh thương mại, dù chỉ chiếm khoảng 2,8% khối lượng môi chất lạnh, lượng phát thải cũng tương đương 3,3 triệu tấn CO₂.
Bà Thương cho rằng dù hệ thống chính sách và một số cơ sở xử lý đã hình thành, song vẫn có những khoảng trống trong quy định như về Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất, nhà nhập khẩu (EPR) chưa cụ thể hóa đầy đủ yêu cầu thu hồi môi chất lạnh.
Bên cạnh đó, các yêu cầu về chứng từ, vận chuyển có phép và lưu giữ chất thải theo quy định về quản lý chất thải nguy hại tạo thêm thủ tục cho các cơ sở quy mô nhỏ. Trong khi đó, hoạt động bảo dưỡng điều hòa dân dụng và thiết bị lạnh thương mại nhỏ chủ yếu do thợ kỹ thuật tự do đảm nhiệm.
Không những thế, hiện nay, hạ tầng xử lý các chất này ở Việt Nam cũng còn hạn chế. Việt Nam mới có một cơ sở tái chế môi chất lạnh ở miền Nam; hai cơ sở tiêu hủy tại miền Bắc và miền Nam, còn miền Trung chưa có cơ sở chuyên biệt. Ngoài ra, dữ liệu về lượng môi chất lạnh được thu gom, xử lý ngoài hệ thống báo cáo chính thức chưa đầy đủ, gây khó khăn cho việc đánh giá hiệu quả thực hiện EPR và xác định lượng phát thải giảm được.
Khoảng cách giữa lượng môi chất lạnh thải bỏ và năng lực thu gom đặt ra yêu cầu mở rộng hệ thống thu hồi, nhằm hạn chế tình trạng môi chất lạnh còn tồn trong thiết bị bị phát tán ra khí quyển khi sửa chữa, tháo dỡ hoặc xử lý phế liệu.
Từ thực trạng trên, bà Thương đề xuất làm rõ trách nhiệm thu hồi môi chất lạnh trong khuôn khổ EPR, bao gồm trách nhiệm của nhà sản xuất, nhà nhập khẩu và các đơn vị tham gia tháo dỡ, tái chế thiết bị. Yêu cầu thu hồi môi chất cần được kết nối với quy trình tái chế thiết bị nhằm hạn chế phát tán ra môi trường.
Đối với hoạt động sửa chữa, bảo dưỡng, bà Thương cho rằng cần nghiên cứu cơ chế thu gom phù hợp với các cơ sở nhỏ và thợ kỹ thuật độc lập, đồng thời phát triển các điểm tiếp nhận, tổ chức thu gom tập trung hoặc kết nối với đơn vị xử lý được cấp phép.
Đại diện VNEEC cũng kiến nghị nâng cao năng lực tái chế, tiêu hủy tại những khu vực chưa có cơ sở chuyên biệt, gắn với nhu cầu thực tế, chủng loại môi chất phát sinh và khả năng vận chuyển, xử lý an toàn.
"Bên cạnh đó, cần chuẩn hóa dữ liệu về lượng môi chất lạnh nhập khẩu, sử dụng, thu hồi, tái chế và tiêu hủy. Hệ thống dữ liệu đầy đủ sẽ giúp theo dõi dòng môi chất xuyên suốt vòng đời thiết bị, đánh giá hiệu quả chính sách, xác định lượng phát thải giảm được và tạo cơ sở cho việc thực hiện EPR", bà Thương nhấn mạnh.