Ngân hàng

Tín dụng xanh: Cân bằng lợi ích môi trường và khả năng trả nợ

Vneconomy
· 19 giờ trước

Thách thức của tín dụng xanh không chỉ nằm ở quy mô cho vay hay lãi suất, mà còn ở việc dung hòa nhu cầu vốn cho các dự án đầu tư môi trường của doanh nghiệp với yêu cầu bảo đảm dòng tiền, khả năng trả nợ và kiểm soát rủi ro của ngân hàng...

Cán bộ ngân hàng khảo sát thực tế hoạt động trồng rừng, lĩnh vực gắn với định hướng phát triển tín dụng xanh (Ảnh: Agribank).
Cán bộ ngân hàng khảo sát thực tế hoạt động trồng rừng, lĩnh vực gắn với định hướng phát triển tín dụng xanh (Ảnh: Agribank).

Phát biểu tại hội thảo 'Chính sách tín dụng và thị trường carbon: Khơi thông dòng vốn xanh' do Báo Tài chính - Đầu tư tổ chức sáng 14/10, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Ngọc Cảnh cho biết, đến cuối tháng 6/2026, dư nợ tín dụng xanh đạt trên 856.000 tỷ đồng, tăng gần 10% so với cuối năm 2025. Trong giai đoạn 2017 - 2025, dư nợ tín dụng xanh tăng trưởng bình quân trên 20% mỗi năm.

Nguồn vốn tập trung chủ yếu vào nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và bảo tồn đa dạng sinh học, chiếm 31%; năng lượng xanh chiếm 28%.

Cùng với mở rộng tín dụng xanh, ngành ngân hàng tăng cường quản lý rủi ro môi trường và xã hội. Đến cuối tháng 6/2026, dư nợ được đánh giá các loại rủi ro này đạt trên 6,22 triệu tỷ đồng, tương đương 31,3% tổng dư nợ nền kinh tế.

Theo Phó Thống đốc, 'điều quan trọng không chỉ là nguồn vốn được giải ngân cho một dự án được xác định là xanh, mà còn là kiểm định kết quả về tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải và bảo vệ môi trường của khách hàng vay vốn'.

Ông cho biết Ngân hàng Nhà nước đã từng bước hoàn thiện chính sách, khuyến khích các tổ chức tín dụng xây dựng chiến lược, quy trình nội bộ và phát triển sản phẩm phù hợp với mục tiêu tăng trưởng xanh.

DOANH NGHIỆP CẦN TIÊU CHÍ VÀ KỲ HẠN PHÙ HỢP

Từ thực tế doanh nghiệp, ông Nguyễn Hữu Tú, Phó Tổng Giám đốc Công ty cổ phần MIZA, cho biết việc huy động vốn xanh đòi hỏi quá trình chuẩn bị lâu dài.

Hoạt động sản xuất giấy tái chế đặt ra yêu cầu cao về xử lý nước thải. Doanh nghiệp phải đầu tư lớn vào công nghệ xử lý, đồng thời xây dựng chiến lược sử dụng năng lượng tái tạo và định hướng phát triển kinh tế tuần hoàn.

Theo ông Tú, ngay từ đầu, doanh nghiệp chưa tiếp cận được nguồn vốn xanh để thực hiện những khoản đầu tư này. Sau khi hoàn thiện định hướng, chiến lược và khung xanh, MIZA mới từng bước tiếp cận tín dụng xanh, tiến tới phát hành trái phiếu xanh.

Ông cho biết doanh nghiệp đã nhận được nguồn tài trợ xanh từ các ngân hàng trong nước và quốc tế, với lãi suất thấp hơn mặt bằng thông thường khoảng 2–3 điểm phần trăm.

Tuy nhiên, quá trình tiếp cận vốn vẫn còn nhiều khó khăn. Ông Tú đề cập tình trạng doanh nghiệp phải tự tìm hiểu các tiêu chí xác định hoạt động xanh, trong khi hướng dẫn và khung đánh giá theo từng loại hình doanh nghiệp chưa thực sự cụ thể.

Một vấn đề khác là thời hạn cho vay chưa phù hợp với đặc thù đầu tư xanh, vốn thường đòi hỏi chi phí lớn và thời gian hoàn vốn dài.

Dẫn trường hợp đầu tư hệ thống xử lý nước thải, ông Tú cho biết ngân hàng từng đặt câu hỏi tại sao doanh nghiệp cần bỏ ra khoản vốn lớn như vậy. Trong khi đó, việc lựa chọn công nghệ phải bảo đảm xử lý hiệu quả nước thải đầu vào và đáp ứng các tiêu chuẩn đối với nước thải đầu ra.

Từ kinh nghiệm này, ông Tú đề xuất các ngân hàng xây dựng khung tiêu chuẩn, sản phẩm tín dụng và phương pháp thẩm định phù hợp hơn với từng lĩnh vực sản xuất; đồng thời thiết kế kỳ hạn, lãi suất theo nhu cầu đầu tư thực tế.

DỰ ÁN XANH VẪN PHẢI ĐẢM BẢO DÒNG TIỀN VÀ KHẢ NĂNG TRẢ NỢ

Ở góc độ ngân hàng thương mại, TS. Nguyễn Thị Thu Hà, Giám đốc Trường Đào tạo cán bộ kiêm Phó trưởng ban Chỉ đạo ESG Agribank, nhấn mạnh vai trò của công tác chuẩn bị dự án, dữ liệu và quản trị rủi ro trong hoạt động tài trợ xanh.

Theo đại diện Agribank, ngân hàng cần đánh giá phương án sản xuất, kinh doanh, khả năng tạo dòng tiền và mức độ tin cậy của những nguồn thu dự kiến. Việc xác định một dự án có lợi ích môi trường không thay thế cho yêu cầu đánh giá khả năng trả nợ.

Agribank cũng đề cập nhu cầu nâng cao năng lực chuẩn bị dự án, hoàn thiện dữ liệu, giảm chi phí xác minh và tăng cường kết nối các nguồn tài chính phục vụ chuyển đổi xanh.

Ở cấp độ chính sách, ông Bùi Minh Giáp, Chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam, cho rằng nhu cầu vốn cho chuyển đổi xanh rất lớn, trong khi hệ thống ngân hàng không thể đáp ứng toàn bộ.

Ông nhấn mạnh việc kết hợp tín dụng với các kênh huy động vốn khác, bao gồm trái phiếu, vốn cổ phần, tài chính hỗn hợp và các cơ chế bảo lãnh, chia sẻ rủi ro.

Theo ông Giáp, cần tiếp tục hoàn thiện tiêu chí phân loại xanh, dữ liệu môi trường và năng lực thẩm định của ngân hàng; đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng kế hoạch chuyển đổi, chuẩn bị dự án và phương án tài chính khả thi.

Các ý kiến tại hội thảo cho thấy, bên cạnh mở rộng nguồn tín dụng, việc hoàn thiện tiêu chí, nâng cao chất lượng chuẩn bị và thẩm định dự án, thiết kế thời hạn vay phù hợp là những yêu cầu được đặt ra để doanh nghiệp tiếp cận vốn xanh thuận lợi hơn.