TP. Hồ Chí Minh xây dựng đô thị thông minh từ quản trị dữ liệu và quy hoạch
Vneconomy
· 20 giờ trước
TP. Hồ Chí Minh đang chuyển trọng tâm xây dựng đô thị thông minh từ ứng dụng công nghệ riêng lẻ sang quản trị dựa trên dữ liệu, trong đó quy hoạch được xác định là 'khung không gian' để kết nối dữ liệu các ngành, hỗ trợ dự báo và nâng cao chất lượng ra quyết định...
TP.Hồ Chí Minh đang chuyển trọng tâm xây dựng đô thị thông minh từ ứng dụng công nghệ riêng lẻ sang quản trị dựa trên dữ liệu. Ảnh:TTXVN.
Tại hội thảo "Giải pháp xây dựng và
phát triển Đô thị thông minh trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh" mới đây, ông Nguyễn Mạnh
Cường, Phó Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh, cho biết Thành phố đã ban hành Quyết định số
4714/QĐ-UBND phê duyệt Đề án Phát triển đô thị thông minh giai đoạn 2026–2030,
tầm nhìn đến năm 2045.
ĐỀ ÁN 9 NGUYÊN TẮC: DỮ LIỆU ĐI TRƯỚC CÔNG NGHỆ
Đề án xác định 6 nhóm nhiệm vụ trọng tâm, 6
giải pháp và lộ trình triển khai gồm 3 giai đoạn, dựa trên 9 nguyên tắc cốt lõi gồm: Tuân thủ pháp luật và thống nhất quản lý; Lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; Lấy dữ liệu làm nền tảng; Liên thông, tích hợp và dùng chung; Bảo đảm an toàn thông tin và bảo vệ
quyền riêng tư; Đảm bảo vai trò, trách nhiệm người đứng đầu của các cơ
quan, đơn vị; Đảm bảo an toàn, triển khai có kiểm soát; Triển khai theo
lộ trình, phù hợp nguồn lực; Mở - linh hoạt - tránhkhóa công nghệ.
Ông Nguyễn Mạnh Cường, Phó Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh: "Thành phố đã ban hành Quyết định số 4714/QĐ-UBND phê duyệt Đề án Phát triển đô thị thông minh giai đoạn 2026–2030, tầm nhìn đến năm 2045". Ảnh: Nguyệt Hà.
Trong số 9 nguyên tắc này, đáng chú ý nhất là
thứ tự ưu tiên: lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; lấy dữ liệu làm nền
tảng; liên thông, tích hợp và dùng chung; bảo đảm an toàn thông tin, quyền
riêng tư; triển khai theo lộ trình phù hợp nguồn lực; và duy trì nguyên tắc mở,
linh hoạt, tránh khóa công nghệ. Tư duy này đặt dữ liệu và năng lực quản trị
lên trước công nghệ, một cách tiếp cận khác biệt so với nhiều đề án đô thị
thông minh trước đây thường bắt đầu từ câu hỏi mua nền tảng nào, hệ thống nào.
Đồng tình với cách tiếp cận này, ông Trần Quốc Thái, Cục trưởng Cục Phát triển
đô thị, Bộ Xây dựng, cho rằngTP. Hồ Chí Minh cần sớm lựa chọn một danh mục ngắn các bài toán đô thị ưu tiên có
tác động lớn. Với mỗi bài toán, phải xác định rõ chỉ số nền, mục tiêu định lượng,
đối tượng thụ hưởng, dữ liệu đầu vào, cơ quan chủ trì, chi phí vòng đời và cơ
chế vận hành sau đầu tư. Những lĩnh vực có thể ưu tiên gồm giao thông,
logistics; ngập, thoát nước và môi trường; quy hoạch, xây dựng, quản lý tài sản
đô thị; y tế, an sinh xã hội và an toàn đô thị.
"Chỉ lựa chọn hoặc thiết kế giải pháp
công nghệ sau khi đã xác định rõ bài toán cần giải quyết, thay vì có một sản phẩm
công nghệ rồi mới tìm vấn đề để áp dụng."
Đại diện Bộ Xây dựng cũng gợi ý TP. Hồ Chí Minh thiết lập cơ
chế thử nghiệm trước khi nhân rộng, những mô hình hiệu quả có thể được áp dụng
cho các địa phương khác. Đặc biệt sau hợp nhất, quy mô diện tích Thành phố lớn
hơn trước nhiều lần trong khi môi trường đô thị, hạ tầng kỹ thuật, dân cư, sản
xuất và dịch vụ ngày càng đa dạng. Yêu cầu nền tảng dữ liệu đô thị thống nhất
vì vậy trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Trong tham luận "Tương lai đô thị thông minh TP. Hồ Chí Minh", bà Dương Thảo
Hiền, Phó Giám đốc Sở Quy hoạch – Kiến trúc TP. Hồ Chí Minh, cho biết Thành phố xác định cần hình
thành ba năng lực cốt lõi.
Thứ nhất: "Cảm nhận đúng" là có dữ liệu đủ tin cậy về
không gian đô thị, hạ tầng, dân cư, doanh nghiệp và năng lực cộng đồng.
Thứ hai: "Hiểu đúng" là kết nối dữ liệu để phân tích, mô phỏng và dự báo.
Thứ ba: "Hành động đúng" là biến kết quả phân tích thành quyết định và hành động
phối hợp, có người chịu trách nhiệm và có chỉ số đo lường kết quả.
Để vận hành ba năng lực đó, Sở Quy hoạch – Kiến
trúc xác định 4 trụ cột, gồm: Quản trị số thống nhất; Nền tảng dữ liệu đô thị trung
tâm; Quản trị dữ liệu như một công việc thường xuyên; Triển khai theo các kịch
bản tập trung vào vấn đề có tác động cao. Nguyên tắc được đặt ra là "nhập
dữ liệu một lần, sử dụng nhiều lần và có kiểm tra", mỗi tập dữ liệu phải
có chủ quản, tiêu chuẩn chất lượng, lịch cập nhật, quyền truy cập và cơ chế bảo
vệ.
XÂY DỰNG BẢN ĐỒ DÙNG CHUNG, TÍCH HỢP QUY HOẠCH
KHÔNG GIAN, HẠ TẦNG
Một trong những thay đổi quan trọng trong tư
duy của TP. Hồ Chí Minh là đưa quy hoạch vào vị trí trung tâm của hệ thống dữ liệu đô thị.
Khi giao thông, xây dựng, đất đai, môi trường, y tế, an sinh xã hội, văn hóa, bất
động sản và dịch vụ đô thị được thể hiện trên cùng một nền tảng bản đồ, cơ quan
quản lý có thể nhìn thấy mối quan hệ giữa các lĩnh vực thay vì xử lý từng vấn đề
riêng lẻ. Quy hoạch cung cấp khung không gian; các ngành bổ sung dữ liệu; công
nghệ hỗ trợ phân tích.
Bà Dương Thảo Hiền, Phó Giám đốc Sở Quy hoạch – Kiến trúc TP. Hồ Chí Minh trình bày tham luận tại hội thảo. Ảnh: Nguyệt Hà.
Theo bà Dương
Thảo Hiền, Thành phố sẽ xây dựng bản đồ đô thị dùng chung, tích hợp quy hoạch sử
dụng đất, công trình, hạ tầng và các chương trình, dự án. Mỗi sở, ngành chịu
trách nhiệm về chất lượng và cập nhật dữ liệu chuyên ngành của mình.
Cùng với bản
đồ là các công cụ trực quan để đánh giá tác động phương án phát triển: khi một
tuyến giao thông thay đổi, hệ thống có thể hỗ trợ đánh giá khu vực nào được hưởng
lợi về hạ tầng xã hội, nhu cầu hạ tầng đáp ứng hay chưa và tác động tới môi trường,
sử dụng đất.
Đồng thời, cách triển khai theo từng bài toán cụ thể được
đặt ra như một nguyên tắc vận hành: ví dụ một khu vực phát triển gắn với hạ tầng
giao thông, tích hợp dữ liệu về giao thông, dân số, nhà ở, dịch vụ và quỹ đất;
hoặc khu vực chịu áp lực ngập, nơi dữ liệu địa hình, thoát nước, sông rạch và
bãi sông được kết nối để hỗ trợ phân tích. Cách làm theo từng bài toán giúp
Thành phố kiểm chứng hiệu quả trước khi đầu tư và nhân rộng, hạn chế nguy cơ
triển khai những hệ thống công nghệ lớn nhưng không giải quyết được nhu cầu thực
tế.
Trong Đề án đô thị thông minh của TP. Hồ Chí Minh, ngành quy hoạch được giao chủ trì 3 nhóm
nhiệm vụ, trong đó có lồng ghép giải pháp đô thị thông minh ở các cấp độ quy hoạch
và xây dựng nền tảng hỗ trợ lập, thẩm định, phê duyệt, quản lý và giám sát thực
hiện quy hoạch.
Mục tiêu là hoàn thành nền tảng trong năm 2026. Đến năm 2030:
100% đồ án quy hoạch được thẩm định, quản lý trên nền tảng số; ít nhất 80% quy
trình thẩm định được số hóa; số hóa ít nhất 90% hồ sơ hiện có và tích hợp toàn
bộ dữ liệu quy hoạch để khai thác.
Bà Dương Thảo Hiền cũng cho biết các mốc triển
khai cụ thể trong năm nay: cập nhật khoảng 2.000 công trình theo cơ sở dữ liệu
quốc gia về quy hoạch trong tháng 11/2026; hoàn thành chuyển đổi số toàn bộ hồ
sơ trong 3 năm gần nhất vào tháng 9/2026; và làm sạch, hoàn thiện cơ sở dữ liệu
vào tháng 11/2026.
Bước phát triển tiếp theo là triển khai
Digital Twin (Bản sao số) trong quy hoạch, hạ tầng kỹ thuật và môi trường. Giai
đoạn 2026–2027 sẽ thử nghiệm tích hợp dữ liệu BIM (Mô hình thông tin công trình) để phục vụ dự báo, mô phỏng
và quản lý không gian, trước khi mở rộng trên toàn Thành phố trong giai đoạn
2028–2030.
Một yêu cầu khác được đặt ra là mở rộng khả
năng tiếp cận dữ liệu đô thị cho nhiều đối tượng. Theo đề xuất của Sở Quy hoạch
– Kiến trúc TP. Hồ Chí Minh, Thành phố cần xây dựng một cửa tiếp nhận thông tin đô thị trên nền
tảng số: người dân tiếp cận thông tin quy hoạch, hạ tầng và cơ hội đầu tư; cơ
quan quản lý theo dõi dự án; chuyên gia tham gia phân tích dữ liệu và đưa ra đề
xuất. Về lâu dài, nền tảng này có thể phát triển thành một cổng thông tin đô thị
tích hợp, kết hợp các công cụ phân tích, đánh giá và hỗ trợ ra quyết định đa
ngành.
"Đô thị thông minh không bắt đầu từ câu
hỏi Thành phố sẽ mua công nghệ gì, mà bắt đầu từ câu hỏi Thành phố muốn ra quyết
định tốt hơn như thế nào và phục vụ người dân ra sao?".
Khi quản lý số, nền tảng dữ liệu và quản trị
dữ liệu được thiết kế đồng bộ, ngành quy hoạch – kiến trúc sẽ không chỉ cung cấp
dữ liệu không gian mà còn trở thành nền tảng kết nối các lĩnh vực.
Theo đó,
TP.Hồ Chí Minh có thể chuyển từ số hóa thông tin sang năng lực điều hành tích hợp, dự
báo và thích ứng, đây cũng là mục tiêu mà Bộ Xây dựng kỳ vọng Thành phố có thể
đạt được: không chỉ triển khai các dự án đô thị thông minh cho riêng mình, mà
trở thành nơi thử nghiệm các mô hình quản trị mới, hình thành những giải pháp
có khả năng nhân rộng trên phạm vi cả nước.