Tin tức thị trường

Triển vọng tín nhiệm nhiều doanh nghiệp bị ảnh hưởng từ xung đột tại Iran?

Vneconomy
· 1 giờ trước
Xung đột vũ trang giữa Mỹ, Israel và Iran tác động tiêu cực đến triển vọng tín nhiệm của các doanh nghiệp dầu khí hạ nguồn, các ngành tiêu thụ nhiều nhiên liệu và năng lượng, nhóm ngành xuất khẩu và các công ty có tỷ lệ nợ vay cao.

VISRating vừa đưa ra góc nhìn về tín nhiệm dưới ảnh hưởng của cuộc xung đột tại Trung Đông kể từ đầu tháng 3, trong đó báo cáo này nhấn mạnh việc gia tăng áp lực về chi phí năng lượng, tỷ giá và tình hình tài chính đối với các doanh nghiệp Việt Nam - vốn bị chịu ảnh hưởng gián tiếp.

Theo VISRating, giá năng lượng tăng gây áp lực lên chi phí và lạm phát. Việt Nam phụ thuộc đáng kể vào nguồn nhiên liệu nhập khẩu, nên các doanh nghiệp sản xuất nhạy cảm với rủi ro gián đoạn nguồn cung và biến động giá dầu khí.

Hàng năm, Việt Nam nhập khẩu khoảng 20 tỷ USD dầu thô, xăng dầu và các sản phẩm liên quan. Đồng thời, tỷ trọng lớn nguồn cung đến từ Trung Đông – khoảng 80% dầu thô và 15% khí hóa lỏng – khiến chuỗi cung ứng dễ bị tổn thương và chi phí sản xuất nhạy cảm với các cú sốc giá.

Trong trường hợp xung đột vũ trang kéo dài tại khu vực Trung Đông, các nhà máy lọc dầu nội địa sẽ đối mặt với rủi ro thiếu hụt nguồn cung dầu đầu vào. Nhà máy lọc dầu Nghi Sơn phụ thuộc phần lớn vào dầu thô nhập khẩu, trong khi Dung Quất cũng nhập khoảng 30–35% nguyên liệu đầu vào, do đó các nhà máy lọc dầu nội địa cần phải tích cực tìm kiếm nguồn cung thay thế để đảm bảo hoạt động trong trường hợp nguồn cung dầu từ Trung Đông bị gián đoạn kéo dài.

Chi phí nhiên liệu tăng cao sẽ lan tỏa sang hoạt động vận tải, sản xuất công nghiệp và phát điện, làm tăng lạm phát do chi phí đẩy và gây áp lực lên biên lợi nhuận của các ngành tiêu thụ nhiều nhiên liệu mà khả năng tăng giá bán để bù đắp chi phí hạn chế.

Nếu gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu kéo dài, triển vọng kinh tế vĩ mô của Việt Nam có thể bớt tích cực, và việc đạt mục tiêu tăng trưởng năm 2026 sẽ trở nên khó khăn hơn, khi chi phí năng lượng gia tăng, nhu cầu bên ngoài suy yếu và điều kiện tài chính thắt chặt.

Tuy nhiên, vị thế của Việt Nam như một trung tâm sản xuất với nền chính trị ổn định sẽ phần nào giảm bớt các áp lực này, nhờ khả năng tiếp tục thu hút dòng vốn FDI, qua đó làm dịu bớt áp lực tỷ giá trong trung hạn.

"Xung đột vũ trang giữa Mỹ, Israel và Iran tác động tiêu cực đến triển vọng tín nhiệm của các doanh nghiệp dầu khí hạ nguồn, các ngành tiêu thụ nhiều nhiên liệu và năng lượng, nhóm ngành xuất khẩu và các công ty có tỷ lệ nợ vay cao. Thời gian và mức độ nghiêm trọng của các gián đoạn trên thị trường năng lượng sẽ là rủi ro chính đối với triển vọng tín nhiệm", báo cáo nêu rõ.

Cụ thể, rủi ro tín nhiệm sẽ tập trung ở các doanh nghiệp xuất khẩu với giá trị đơn vị hàng hóa thấp, như dệt may, thủy sản và đồ gỗ, do chi phí vận tải chiếm tỷ trọng đáng kể so với giá trị đơn hàng xuất khẩu. Chi phí vận tải đường biển ước tính chiếm khoảng 10% giá trị đơn hàng xuất khẩu dệt may và lên tới 20–30% đối với đồ gỗ.

Chi phí vận tải tăng mạnh sẽ đẩy giá bán sản phẩm đến tay người tiêu dùng cuối cùng, qua đó gây sức ép lên nhu cầu, triển vọng đơn hàng và doanh thu của các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam trong ngắn hạn.

Đối với tỷ giá, giá năng lượng và chi phí vận tải toàn cầu tăng có thể đẩy lạm phát tại Mỹ lên cao, khiến Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) trì hoãn việc nới lỏng tiền tệ, hỗ trợ sức mạnh của đồng USD. Điều này sẽ gây ra áp lực mất giá kéo dài đối với VND, làm gia tăng rủi ro tỷ giá cho các doanh nghiệp Việt Nam có dư nợ bằng USD.

Các doanh nghiệp chịu tác động lớn nhất thuộc nhóm ngành sản xuất điện và cung cấp nước sạch (bao gồm PGV, PC1, BGE và BWE), cũng như các hãng vận tải hàng không (HVN và VJC) do các doanh nghiệp này vừa có tỷ trọng đáng kể nợ vay bằng USD vừa có nhiều chi phí hoạt động bằng USD như chi phí nhiên liệu, thuê máy bay và bảo dưỡng.

Biến động tỷ giá kéo dài sẽ làm suy yếu khả năng trả nợ và hồ sơ tín nhiệm của các doanh nghiệp này, đặc biệt đối với các doanh nghiệp có mức độ phòng ngừa rủi ro hạn chế.

Đồng thời, rủi ro lạm phát và tỷ giá gia tăng có thể khiến chính sách tiền tệ trong nước thắt chặt hơn, lãi suất tăng đồng thời việc quản lý thanh khoản chặt chẽ hơn. Điều này sẽ làm tăng chi phí vốn và rủi ro tái cấp vốn, đặc biệt đối với các doanh nghiệp bất động sản và hạ tầng có đòn bẩy cao, khả năng chi trả lãi vay hạn chế và áp lực đáo hạn nợ lớn trong ngắn hạn.

-Thu Minh

]]>