VIFC-HCMC điều phối dòng vốn phục vụ chuyển đổi cơ cấu
PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, Phó Chủ tịch Cơ quan điều hành VIFC-HCMC cho rằng, VIFC-HCMC cần trở thành một bộ điều phối phát triển, kết nối và điều hướng vốn quốc tế vào các ngành có giá trị gia tăng cao. Dòng vốn phải giúp Việt Nam làm chủ công nghệ, tạo bước nhảy về năng suất và xây dựng những doanh nghiệp đủ sức cạnh tranh toàn cầu.
9 tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đăng ký đạt 50,36 tỷ USD, còn vốn FDI thực hiện đạt 21,07 tỷ USD. Kết quả này cần được nhìn cùng với cơ cấu xuất khẩu và năng lực công nghệ trong nước.
Thách thức lớn nhất hiện nay nằm ở mức độ phụ thuộc vào khu vực FDI trong lĩnh vực xuất khẩu. Mô hình xuất khẩu của Việt Nam còn nặng về gia công, lắp ráp, trong khi năng lực nghiên cứu và sáng tạo chưa phát triển tương xứng. Một nền kinh tế xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao cần tiếp tục nâng năng lực thiết kế và làm chủ công nghệ cốt lõi tại chỗ.
'Chúng ta cần thu hút dòng vốn thế hệ mới gắn với nghiên cứu và phát triển, đào tạo kỹ sư, hợp tác công nghệ và nâng cấp nhà cung ứng Việt Nam. Dòng vốn ấy phải giúp doanh nghiệp Việt Nam từng bước tham gia sâu hơn vào các khâu có giá trị gia tăng cao, tạo lập tài sản trí tuệ và nâng vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu. Đó là yêu cầu đặt ra cho TP.HCM và VIFC-HCMC', ông Huân nói.
Đến nay sau gần 1 năm đi vào hoạt động, VIFC-HCM đã thu hút hơn 20 tỷ USD vốn cam kết từ các nhà đầu tư. Tuy nhiên, theo ông Huân, VIFC-HCMC không chỉ là kênh dẫn vốn, mà cần trở thành bộ điều phối để dòng vốn góp phần thay đổi cơ cấu và năng lực của nền kinh tế. Vai trò ấy bắt đầu từ việc chuyển các ưu tiên phát triển quốc gia thành danh mục dự án có khả năng thu hút đầu tư.
Trung tâm tài chính cần phối hợp với các bộ, ngành, địa phương, trường đại học và doanh nghiệp để xác định lĩnh vực tạo giá trị cao, nhận diện khoảng trống công nghệ và kết nối nhà đầu tư phù hợp. Vốn cho nghiên cứu phải đi cùng chuyên gia và phòng thí nghiệm. Vốn thương mại hóa cần gắn với khách hàng và thị trường. Vốn cho sản xuất phải hỗ trợ hình thành chuỗi cung ứng tại Việt Nam.
Điều phối tốt sẽ giúp các nguồn lực bổ trợ nhau và tạo năng lực mà từng dự án riêng lẻ khó hình thành. Khi doanh nghiệp Việt Nam tham gia thiết kế, sở hữu giải pháp và thương hiệu, vị thế đàm phán và phần giá trị được hưởng sẽ tăng lên. VIFC-HCMC cần ưu tiên kết nối nguồn vốn cho chính những bước nâng cấp này, gắn doanh nghiệp Việt Nam với đối tác công nghệ và khách hàng quốc tế.
Chính sách hướng đến năng lực của doanh nghiệp Việt Nam
PGS.TS Nguyễn Hữu Huân cho rằng, định hướng này phù hợp với tinh thần của Nghị quyết 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài: chú trọng chất lượng dòng vốn, đổi mới sáng tạo và liên kết với doanh nghiệp trong nước.
Các mục tiêu đến năm 2030 được trình bày trên slide, như tỷ lệ nội địa hóa từ 45 đến 50 phần trăm trong những ngành công nghiệp chủ lực, khoảng 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng và từ 500 đến 1.000 nhà cung ứng cấp một, cho thấy yêu cầu nâng cao năng lực nội địa. Đây là mục tiêu phấn đấu, cần được cụ thể hóa bằng chương trình và dự án.
Ở cấp triển khai, cần xác định ngành ưu tiên, doanh nghiệp có khả năng nâng cấp và đối tác cùng phát triển công nghệ. Chính sách thu hút đầu tư cần gắn với khoa học công nghệ, đào tạo nhân lực và phát triển thị trường vốn để nâng khả năng hấp thụ của nền kinh tế. Các lĩnh vực ưu tiên gồm trí tuệ nhân tạo và hạ tầng số, bán dẫn, robot và tự động hóa, công nghệ sinh học, năng lượng sạch, vật liệu tiên tiến và tài chính số. Công nghệ lượng tử cần được chuẩn bị với tầm nhìn dài hạn.
Theo ông Huân, trong từng ngành, phải xác định khâu Việt Nam có khả năng tạo khác biệt: thiết kế chip, phát triển giải pháp AI, chế tạo linh kiện hoặc sở hữu công nghệ. Việc điều hướng vốn cần dựa trên nhu cầu thị trường, chất lượng đội ngũ và khả năng lan tỏa sang các doanh nghiệp trong nước. Mỗi dự án phải gắn với một bước tiến cụ thể về năng lực.
VIFC-HCMC cần điều phối kết nối vốn với các chương trình phát triển nhân lực, thu hút chuyên gia và hợp tác đào tạo quốc tế. Mỗi dự án công nghệ phải góp phần hình thành đội ngũ tại chỗ có khả năng tiếp tục cải tiến, sáng tạo và làm chủ công nghệ.
Cũng theo ông Huân, để duy trì tăng trưởng hai con số trên hành trình khoảng hai thập niên, chúng ta phải tạo những bước nhảy về năng suất và năng lực công nghệ. Tăng thêm vốn, lao động và công suất gia công theo cách tuần tự sẽ khó đáp ứng yêu cầu ấy. Cần các ngành công nghệ cao, doanh nghiệp sáng tạo và năng lực làm chủ những khâu có giá trị lớn trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Do đó, VIFC-HCMC cần trở thành một thiết chế điều phối quan trọng của quá trình đó: đưa vốn đến nơi tạo ra năng lực mới, kết nối các nguồn lực để hình thành ngành công nghiệp mới, và giúp doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh. Khi được thực hiện đồng bộ với cải cách thể chế, phát triển nhân lực và giữ vững ổn định vĩ mô, đây sẽ là nền tảng để khát vọng tăng trưởng cao liên tục trở nên khả thi.
