'Vòng luẩn quẩn' của DN Việt: Xuất khẩu nhiều nhưng giữ lại bao nhiêu giá trị?
Vietnamfinance
· 9 giờ trước
'Vòng luẩn quẩn' của DN Việt: Xuất khẩu nhiều nhưng giữ lại bao nhiêu giá trị?Tiểu Vy-05/09/2026 08:30 (GMT+7)(VNF) - Trao đổi với Tạp chí Đầu tư Tài chính, TS. Lê Quốc Phương, nguyên Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin công nghiệp và thương mại (Bộ Công Thương) cho rằng, điểm nghẽn lớn nhất của DN Việt nằm ở năng lực cạnh tranh. Hạn chế về công nghệ, quản trị, tài chính và nhân lực khiến doanh nghiệp nội địa vẫn chủ yếu ở các khâu có giá trị gia tăng thấp, trong khi khu vực FDI chiếm phần lớn giá trị xuất khẩu.Doanh nghiệp nội địa vẫn đứng ngoài phần lớn giá trị xuất khẩu-Thưa ông, nhìn từ thực tế doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, đâu là điểm nghẽn lớn nhất khiến khu vực này khó đi lên trong chuỗi giá trị?TS. Lê Quốc Phương:Có nhiều điểm nghẽn, nhưng trước hết phải nhìn vào một thực tế: doanh nghiệp nội địa hiện chỉ chiếm khoảng 20% tổng kim ngạch xuất khẩu, trong khi khu vực FDI chiếm khoảng 80%.TS. Lê Quốc Phương, nguyên Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin công nghiệp và thương mại (Bộ Công Thương)Điều đó cho thấy tăng trưởng xuất khẩu, kể cả xuất siêu, hiện vẫn phụ thuộc rất lớn vào khu vực FDI. Câu hỏi đặt ra là tại sao doanh nghiệp Việt Nam lại có tỷ trọng thấp như vậy?Theo tôi, nguyên nhân cốt lõi là năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nội địa còn yếu, cả ở thị trường trong nước lẫn quốc tế.Năng lực cạnh tranh không chỉ nằm ở sản phẩm mà còn bao gồm năng lực quản trị, trình độ công nghệ, tiềm lực tài chính và chất lượng nguồn nhân lực. Ở những yếu tố này, doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn khoảng cách khá lớn so với doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp của nhiều nước trong khu vực như Trung Quốc, Indonesia, Thái Lan, Malaysia, chưa nói đến Hàn Quốc hay Nhật Bản.Đây là lý do doanh nghiệp Việt Nam khó mở rộng quy mô, khó tham gia những công đoạn tạo ra giá trị lớn và càng khó trở thành lực lượng dẫn dắt trong các ngành công nghiệp xuất khẩu.-Năng lực cạnh tranh yếu đang biểu hiện rõ nhất ở đâu, thưa ông?TS. Lê Quốc Phương:Nó thể hiện ngay ở khả năng cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ. Doanh nghiệp Việt Nam không chỉ khó cạnh tranh trên thị trường quốc tế mà ngay tại thị trường trong nước cũng chịu sức ép rất lớn.Một đặc điểm khá rõ là nhiều doanh nghiệp vẫn chủ yếu cạnh tranh bằng giá. Trong khi đó, cạnh tranh trên thị trường quốc tế ngày càng dựa vào chất lượng, công nghệ, khả năng đáp ứng đơn hàng, độ tin cậy và giá trị gia tăng của sản phẩm.Khi giá trị gia tăng thấp, doanh nghiệp buộc phải dựa vào lợi thế giá rẻ để cạnh tranh. Mà cạnh tranh bằng giá thì biên lợi nhuận thấp, khả năng tích lũy vốn hạn chế và rất khó đầu tư trở lại cho công nghệ, thương hiệu hay nghiên cứu phát triển.Đó là một vòng luẩn quẩn.Doanh nghiệp không có công nghệ tốt thì khó tạo ra sản phẩm có giá trị cao; không có sản phẩm có giá trị cao thì khó xây dựng thương hiệu; thương hiệu yếu lại khiến doanh nghiệp tiếp tục phải cạnh tranh bằng giá. Vì thế, muốn đi lên trong chuỗi giá trị thì không thể chỉ nói đến tăng sản lượng hay tăng kim ngạch, mà phải nâng được giá trị tạo ra trong mỗi sản phẩm.Nông nghiệp là nơi doanh nghiệp Việt còn giữ được vị trí-Hạn chế này có thể nhìn thấy như thế nào qua cơ cấu xuất khẩu của doanh nghiệp nội địa?TS. Lê Quốc Phương:Có thể nhìn khá rõ ở nông, lâm, thủy sản. Đây vẫn là những lĩnh vực mà doanh nghiệp Việt Nam giữ được vai trò tương đối lớn, trong khi ở nhiều ngành công nghiệp, khu vực FDI đang chi phối.Nhưng ngay trong nông nghiệp, vấn đề giá trị gia tăng cũng rất rõ.Chúng ta xuất khẩu cà phê với sản lượng rất lớn nhưng thương hiệu Việt Nam trên thị trường quốc tế vẫn còn hạn chế. Chè cũng tương tự. Nhiều sản phẩm nông nghiệp chủ yếu vẫn xuất khẩu dưới dạng nguyên liệu, sản phẩm thô hoặc mới qua sơ chế, thay vì chế biến sâu và xây dựng thương hiệu.Điều này khiến giá trị mà doanh nghiệp Việt Nam giữ lại trong chuỗi giá trị toàn cầu chưa cao.-Vì sao doanh nghiệp Việt Nam lại giữ được khu vực nông, lâm, thủy sản, trong khi ở công nghiệp lại chủ yếu do FDI dẫn dắt?TS. Lê Quốc Phương:Một phần là do doanh nghiệp nước ngoài chưa tham gia quá sâu vào nông nghiệp. Đây là lĩnh vực có rủi ro lớn, từ thời tiết, dịch bệnh đến biến động giá cả thế giới, trong khi tỷ suất lợi nhuận không phải lúc nào cũng hấp dẫn.Vì vậy, FDI thường quan tâm nhiều hơn đến những lĩnh vực công nghiệp, sản xuất và những ngành có khả năng tạo ra quy mô doanh thu lớn hơn.Tuy nhiên, việc doanh nghiệp Việt Nam còn chiếm ưu thế ở nông nghiệp không đồng nghĩa với việc nông nghiệp có thể trở thành động lực chính đưa nền kinh tế lên một trình độ phát triển mới.Việt Nam có sản lượng cà phê, gạo thuộc nhóm lớn trên thế giới, nhưng giá trị thu được vẫn chưa tương xứng với quy mô sản xuất. Đây là khác biệt rất quan trọng giữa có sản lượng và tạo ra giá trị.Nông nghiệp vẫn rất quan trọng, nhưng nếu chỉ dựa vào nông nghiệp thì rất khó tạo ra bước nhảy lớn về năng suất và thu nhập của nền kinh tế.-Như vậy có phải Việt Nam cần giảm vai trò của nông nghiệp để tập trung nguồn lực cho công nghiệp?TS. Lê Quốc Phương:Không nên hiểu như vậy. Nông nghiệp vẫn phải được duy trì vì đây là lĩnh vực quan trọng đối với đời sống người dân, an ninh lương thực và phát triển kinh tế - xã hội.Ngay cả những nền kinh tế phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc hay các nước châu Âu vẫn duy trì và có chính sách hỗ trợ nông nghiệp.Nhưng điểm khác là họ không coi nông nghiệp là động lực tăng trưởng chính. Khi nền kinh tế phát triển, tỷ trọng nông nghiệp trong GDP thường giảm xuống, trong khi công nghiệp công nghệ cao và dịch vụ có giá trị gia tăng cao hơn đóng vai trò ngày càng lớn.Vấn đề của Việt Nam hiện nay là doanh nghiệp nội địa còn tập trung nhiều ở nông, lâm, thủy sản, trong khi khu vực công nghiệp - nơi tạo ra quy mô giá trị lớn hơn - lại chủ yếu do FDI dẫn dắt.Nếu cơ cấu này không thay đổi, doanh nghiệp Việt Nam sẽ rất khó nâng vị thế trong chuỗi giá trị.Muốn giảm phụ thuộc FDI, trước hết DN Việt phải mạnh lên-Vậy đâu là hướng đi để doanh nghiệp Việt Nam có thể vươn lên và giảm sự phụ thuộc vào khu vực FDI?TS. Lê Quốc Phương:Trọng tâm vẫn là nâng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nội địa. Muốn cạnh tranh được với doanh nghiệp nước ngoài, trước hết doanh nghiệp Việt Nam phải nâng chất lượng quản trị, công nghệ, năng lực tài chính và nguồn nhân lực.Nhưng chỉ doanh nghiệp cố gắng thôi chưa đủ. Đây còn là câu chuyện của cả nền công nghiệp.Doanh nghiệp nội địa phải từng bước chuyển từ gia công, lắp ráp sang làm chủ nhiều hơn các công đoạn có giá trị gia tăng cao; nâng tỷ lệ nội địa hóa, hàm lượng công nghệ và khả năng tự phát triển sản phẩm.Muốn vậy, nền công nghiệp trong nước phải nâng trình độ công nghệ. Hiện nay, chúng ta vẫn phụ thuộc khá nhiều vào công nghệ, máy móc, nguyên liệu và linh kiện nhập khẩu. Khi những yếu tố đầu vào quan trọng còn phụ thuộc bên ngoài, doanh nghiệp Việt Nam rất khó giữ lại phần giá trị lớn trong chuỗi sản xuất.Vì thế, bài toán không chỉ là làm sao để doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu nhiều hơn, mà là làm sao để doanh nghiệp Việt Nam tạo ra và giữ lại nhiều giá trị hơn từ hoạt động xuất khẩu.-Như vậy, giảm phụ thuộc vào FDI không đồng nghĩa với giảm thu hút FDI, mà là phải làm cho doanh nghiệp Việt Nam mạnh lên?TS. Lê Quốc Phương:Đúng vậy. Chúng ta không thể nói rằng muốn doanh nghiệp Việt Nam phát triển thì phải giảm FDI. FDI vẫn là một nguồn lực quan trọng đối với nền kinh tế.Vấn đề là doanh nghiệp Việt Nam phải đủ năng lực để tham gia sâu hơn vào hệ sinh thái sản xuất của khu vực FDI, thay vì đứng ngoài hoặc chỉ đảm nhận những công đoạn có giá trị thấp.Muốn vậy, doanh nghiệp Việt Nam phải chuyển từ gia công, lắp ráp sang sản xuất sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn. Phải tăng tỷ lệ nội địa hóa, làm chủ công nghệ, xây dựng thương hiệu và tham gia được vào những khâu quan trọng hơn của chuỗi cung ứng.Đây là vấn đề chúng ta đã nói nhiều năm nhưng đến nay vẫn chưa giải quyết được một cách căn bản.Nói thì dễ, nhưng làm được là cả một quá trình. Doanh nghiệp phải thay đổi, nền công nghiệp phải thay đổi và chính sách hỗ trợ cũng phải thay đổi theo hướng tạo điều kiện để doanh nghiệp đầu tư dài hạn vào công nghệ, nhân lực và năng lực quản trị.Nếu làm được, doanh nghiệp Việt Nam mới có thể từng bước nâng tỷ trọng trong xuất khẩu, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và quan trọng hơn là tăng phần giá trị mà nền kinh tế Việt Nam thực sự giữ lại từ mỗi đồng kim ngạch xuất khẩu. Đó mới là thước đo quan trọng của quá trình nâng cấp doanh nghiệp và chất lượng tăng trưởng.Xin trân trọng cảm ơn ông!FDI chiếm 80% kim ngạch xuất khẩu, Việt Nam tăng tốc nâng cấp nhà cung ứng nội địaFDI chiếm 80% kim ngạch xuất khẩu, Việt Nam tăng tốc nâng cấp nhà cung ứng nội địaĐầu tư(VNF) - Khu vực FDI đang tạo ra hơn 80% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, nhưng mức độ tham gia của doanh nghiệp trong nước lại chưa tương xứng. Bài toán của Việt Nam là nâng cấp doanh nghiệp nội địa để giữ lại nhiều hơn giá trị từ dòng vốn này.