Xét xử 12 bị cáo trong đường dây buôn lậu, vận chuyển tiền tệ trái phép

Cơ quan tố tụng đã chỉ ra việc các đối tượng đã lợi dụng việc không có sự liên thông dữ liệu giữa các cơ quan quản lý Nhà nước để thực hiện hành vi vận chuyển trái phép hơn 12.000 tỷ đồng qua biên giới...
Ngày 23/9, Tòa án nhân dân TP Hà Nội đưa ra xét xử 12 bị cáo trong vụ án buôn lậu, vận chuyển tiền tệ trái phép.
Trong đó, bị cáo Trần Thế Mạnh (SN 1982, ở xã Hoài Đức, Hà Nội) bị truy tố về tội Buôn lậu, Vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới; Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức. Bị cáo Trần Thị Nga (chị gái Mạnh, SN 1977, ở xã Gia Lam, Hà Nội) bị truy tố về tội Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức và Buôn lậu.
LÀM GIẢ HỢP ĐỒNG, QUAY VÒNG TỜ KHAI HẢI QUAN
Theo cáo trạng, từ năm 2018 – 2023, bị cáo Trần Thế Mạnh đứng tên thành lập hoặc nhờ người thân đứng tên 7 công ty. Những người này đều giao lại chữ ký, con dấu công ty cho Mạnh quản lý. Mạnh và Nga đã sử dụng các pháp nhân trên để vận chuyển trái phép tiền tệ sang Trung Quốc.
Phương thức hoạt động của bị cáo là khách hàng đưa thông tin của bên thụ hưởng và tiền VND tương ứng với số tiền ngoại tệ cần chuyển. Mạnh thuê người làm kế toán để ký hợp thức hồ sơ, chứng từ chuyển tiền, ký hợp đồng mua bán ngoại tệ, lệnh chuyển tiền… rồi cung cấp cho ngân hàng.
Tổng cộng bị cáo Mạnh mở 21 tài khoản cá nhân tại 21 ngân hàng thương mại trong nước nhằm mục đích nhận tiền từ khách hàng có nhu cầu chuyển tiền. Bị cáo cũng mở tài khoản thanh toán của 5 công ty tại 29 ngân hàng trong nước để thực hiện thanh toán quốc tế.
Sau khi liên hệ, mở tài khoản ngân hàng, Mạnh lập các nhóm zalo với nhân viên từng ngân hàng, nhóm kế toán. Hàng ngày, nhân viên ngân hàng sẽ thông báo tỷ giá USD trên nhóm zalo này. Bị cáo Mạnh lựa chọn ngân hàng có tỷ giá thấp nhất để mua USD.
Cáo buộc cũng thể hiện, số tiền cần chuyển sang Trung Quốc được chuyển đến nhiều tài khoản khác nhau theo yêu cầu của khách hàng.
Do đó, Mạnh chỉ đạo nhân viên trực tiếp soạn thảo, làm giả phụ lục hợp đồng ngoại thương, hợp đồng ba bên nhằm đưa tài khoản thụ hưởng vào hợp đồng. Các bị cáo in chèn hình dấu các công ty Trung Quốc đứng tên tài khoản thụ hưởng vào hợp đồng để hợp thức hồ sơ.
Khi ngân hàng duyệt hồ sơ, Mạnh chuyển tiền đến các tài khoản thanh toán của các công ty tương ứng để mua ngoại tệ chuyển ra nước ngoài dưới danh nghĩa thanh toán hợp đồng nhập khẩu hàng hóa từ Trung Quốc.
Với mỗi giao dịch chuyển tiền thành công, Mạnh được hưởng phí từ 0,04-0,08%.
Viện kiểm sát cũng nêu rõ, Mạnh biết các ngân hàng không có hệ thống liên thông, kiểm tra các hợp đồng nhập khẩu, tờ khai hải quan đã được thanh toán tại ngân hàng khác và số lượng tiền cần chuyển (hơn 12.000 tỷ đồng) nhiều hơn tổng giá trị tờ khai hải quan hàng hóa nhập khẩu của các công ty (khoảng 900 tỷ đồng).
Do đó, Mạnh chỉ đạo nhân viên lựa chọn, sử dụng quay vòng các tờ khai hải quan đã thanh toán nhằm làm giả hồ sơ, chứng từ thanh toán, chuyển tiền trái phép sang Trung Quốc tại nhiều ngân hàng khác nhau.
Với cách thức trên, nhóm của Mạnh đã thông quan, hợp thức hồ sơ, chứng từ, thực hiện 3.270 lệnh chuyển tiền để chuyển sang Trung Quốc hơn 519 triệu USD, tương đương hơn 12.000 tỷ đồng. Trong đó, bị cáo Mạnh hưởng lợi hơn 5,2 tỷ đồng.
THIẾU DỮ LIỆU LIÊN THÔNG GIỮA CÁC CƠ QUAN QUẢN LÝ
Kết quả điều tra xác định, hiện nay không có quy định về việc kiểm tra, rà soát, đối chiếu các hợp đồng, chứng từ, tờ khai hải quan đã thanh toán tại các ngân hàng khác.
Các ngân hàng cũng chưa có hệ thống liên thông dữ liệu về việc chuyển tiền ra nước ngoài thanh toán xuất nhập khẩu của các cá nhân, tổ chức trong nước. Ngân hàng chỉ yêu cầu cá nhân, tổ chức thực hiện thanh toán quốc tế phải cam kết không chuyển vượt quá giá trị trên tờ khai và phải chịu trách nhiệm về tính xác thực của hồ sơ thanh toán.
Vì vậy, các ngân hàng, tổ chức tín dụng thực hiện lệnh chuyển tiền không phát hiện được việc các đối tượng sử dụng chứng từ giả, sử dụng một tờ khai hải quan thanh toán nhiều lần tại các ngân hàng khác nhau.
Tương tự, trong vụ án này, bị cáo Trần Thị Nga đã làm giả 376 tài liệu nhằm hợp thức hồ sơ khai báo hải quan để nhập khẩu, thông quan 250 lô hàng, trị giá hơn 4,1 triệu USD, tương đương gần 98 tỷ đồng.
Tuy nhiên, do không quy định về việc cơ quan hải quan xác minh giấy tờ hành chính trước khi thông quan và không có sự liên thông giữa cơ quan hải quan và cơ quan quản lý hành chính nhà nước nên cơ quan hải quan không phát hiện tài liệu giả.