Bế tắc khi vay vốn 500 triệu đồng: Câu chuyện thực và bài toán chưa lời giải cho DNNVV

Từ nhu cầu vốn của HTX đến những rào cản tín dụng
Tại hội thảo Phát triển hệ sinh thái tài chính xanh tại địa phương: Từ chính sách đến mô hình triển khai, bà Nguyễn Thị Mi Sa - Hợp tác xã thủy hải sản Quảng Nam cho biết, đơn vị có nhu cầu đầu tư nhà lưới phục vụ phơi hải sản, bổ sung trang thiết bị nhằm nâng cao chất lượng và bảo đảm an toàn sản phẩm. Hợp tác xã cũng định hướng phát triển hoạt động tham quan, giúp khách hàng tìm hiểu quy trình sản xuất truyền thống, qua đó kết hợp sản xuất với du lịch xanh.
Tổng vốn dự kiến cho các hạng mục này khoảng 500 – 800 triệu đồng. Tuy nhiên, khả năng tiếp cận nguồn vốn hỗ trợ vẫn là bài toán khó đối với hợp tác xã.

Trở ngại đầu tiên là tài sản bảo đảm. Tài sản chung của các thành viên không đồng nghĩa với việc hợp tác xã có tài sản riêng đủ điều kiện thế chấp. Nếu phải sử dụng tài sản cá nhân để vay vốn, các thành viên sẽ phải đối mặt với thêm một rào cản.
Bên cạnh đó, hợp tác xã chưa có nhiều thông tin về tài chính xanh, đặc biệt là những tiêu chí cần đáp ứng để chứng minh hoạt động sản xuất giúp giảm phát thải, tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường.
"Việc chuẩn bị hồ sơ, giấy tờ tài chính để chứng minh năng lực hoạt động cũng là khó khăn đối với một đơn vị có quy mô nhỏ", bà Mi Sa nói.
Ông Nguyễn Quang Ngọc - Phó trưởng ban Chính sách tín dụng, Ngân hàng Agribank, cho rằng, với nhu cầu đầu tư của Hợp tác xã thủy hải sản Quảng Nam, phương án vay vốn cần làm rõ các khoản đầu tư tài sản cố định như nhà lưới, trang thiết bị sản xuất, đồng thời tính toán nhu cầu vốn lưu động cho nguyên liệu, tiền lương, điện, nước và các chi phí liên quan. Trên cơ sở doanh thu dự kiến, chi phí đầu vào và hiệu quả kinh doanh, ngân hàng sẽ đánh giá khả năng tạo dòng tiền và trả nợ.
Về tài sản bảo đảm, theo ông Ngọc, yêu cầu cụ thể phụ thuộc vào chính sách tín dụng và mức độ chấp nhận rủi ro của từng ngân hàng. Tại Agribank, hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ được sử dụng để đánh giá mức độ tín nhiệm của khách hàng, làm cơ sở xem xét khoản vay và yêu cầu bảo đảm. Vì vậy, việc cung cấp đầy đủ thông tin về hoạt động và tình hình tài chính sẽ giúp ngân hàng có cơ sở thẩm định.
Ông Ngọc cũng lưu ý chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo Nghị định 55/2015/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 156/2025/NĐ-CP. Theo chính sách này, hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã có thể được vay không có tài sản bảo đảm tối đa 5 tỷ đồng nếu đáp ứng các điều kiện áp dụng. Tuy nhiên, phạm vi địa bàn và đối tượng thụ hưởng cần được xem xét cụ thể. Chẳng hạn, địa bàn phường không thuộc phạm vi áp dụng được đề cập.
Trong trường hợp không thuộc diện hưởng chính sách này, hợp tác xã vẫn có thể được ngân hàng xem xét dựa trên kết quả đánh giá tín dụng. Việc duy trì giao dịch thường xuyên qua ngân hàng, từ thanh toán tiền lương đến các khoản chi phí sản xuất, cũng giúp hình thành lịch sử giao dịch, tạo thêm dữ liệu phục vụ đánh giá mức độ tín nhiệm.
Một nội dung khác được đại diện Agribank đề cập là quy định về cho vay đối với các khoản vay giá trị nhỏ. Theo đó, mức vay thuộc diện áp dụng được nâng lên 400 triệu đồng; với khoản vay từ mức này trở xuống, khách hàng không phải lập phương án sử dụng vốn khả thi theo quy định được đề cập. Chính sách hướng đến đơn giản hóa thủ tục, hồ sơ và góp phần hạn chế tín dụng đen.
Nhà nước hoàn thiện tiêu chí xanh, doanh nghiệp nâng năng lực
Bà Nguyễn Thị Minh Ngọc, Phó giám đốc Vườn ươm doanh nghiệp Đà Nẵng cho rằng, điểm yếu phổ biến của doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa cùng các hợp tác xã là thiếu kế hoạch kinh doanh rõ ràng và dữ liệu chứng minh hiệu quả hoạt động.
Nhiều đơn vị tập trung sản xuất, bán hàng và tạo doanh thu nhưng chưa xây dựng kế hoạch phát triển thị trường, mở rộng nguồn thu hay công cụ đánh giá kết quả. Khi tiếp cận ngân hàng, những hạn chế này khiến doanh nghiệp khó chứng minh năng lực vận hành và triển vọng kinh doanh. Với các khoản vay lớn, yêu cầu về năng lực tài chính và tài sản bảo đảm càng trở thành thách thức.

Theo bà Ngọc, các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp có thể phối hợp với ngân hàng để hướng dẫn chính sách, xác định hồ sơ cần chuẩn bị và hỗ trợ hoàn thiện thủ tục. Tuy nhiên, về lâu dài, doanh nghiệp phải chủ động xây dựng phương án kinh doanh có cơ sở, xác định đầu ra và chứng minh hiệu quả bằng dữ liệu cụ thể. Đây là nền tảng để nâng cao khả năng tiếp cận vốn, thay vì chỉ giải quyết nhu cầu vay trước mắt.
Bà Nguyễn Tùng Anh, đại diện Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể, Bộ Tài chính cho biết, Quyết định 46/2026 được kỳ vọng góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý liên quan đến việc xác định tiêu chí. Tuy nhiên, khuôn khổ này vẫn cần được cụ thể hóa để phù hợp hơn với hoạt động thực tế của doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng.
Khi tiêu chí chung chưa giải quyết hết những tình huống cụ thể, ngân hàng vẫn cần các công cụ bổ sung để đánh giá khách hàng và phương án vay. Cách tiếp cận này giúp tổ chức tín dụng xem xét đặc điểm riêng của từng mô hình kinh doanh, nhưng đồng thời đòi hỏi tiêu chí đánh giá phải đủ minh bạch để doanh nghiệp biết trước những yêu cầu cần đáp ứng.
Theo bà Tùng Anh, cơ quan chuyên môn đang xây dựng bộ công cụ nhằm xác định mức độ phù hợp của doanh nghiệp và mô hình kinh doanh với định hướng phát triển bền vững. Bộ công cụ được kỳ vọng có thể ban hành vào đầu năm sau, qua đó giúp doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh hiểu rõ hơn các yêu cầu liên quan.
Dù vậy, hoàn thiện chính sách mới chỉ giải quyết một phần vấn đề. Với các đơn vị quy mô nhỏ, năng lực quản trị, khả năng tổ chức dữ liệu kinh doanh và xây dựng phương án đầu tư vẫn là những yếu tố quan trọng. Doanh nghiệp cần chứng minh được nhu cầu vốn, hiệu quả dự kiến, khả năng tạo dòng tiền và tác động tích cực đến môi trường nếu muốn tiếp cận nguồn tài chính xanh.