Dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi): Đánh giá đầy đủ điều kiện thực thi
Vneconomy
· 8 giờ trước
Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường tán thành sự cần thiết sửa đổi Luật An toàn thực phẩm. Tuy nhiên, đề nghị làm rõ tính khả thi, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, sự hài hòa giữa quản lý và kiến tạo phát triển. Cùng với đó, đề nghị rà soát quy định hai lớp tiền kiểm đối với hàng nhập khẩu; luật hóa tối đa các nội dung đã rõ, đã ổn định...
Quang cảnh phiên họp. Ảnh: Cổng thông tin điện tử Quốc hội.
Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, sáng 24/10, Quốc hội họp
phiên toàn thể ở hội trường, nghe tờ trình và báo cáo thẩm tra dự án Luật An
toàn thực phẩm (sửa đổi).
THỐNG NHẤT QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM
Trình bày tờ trình, Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan cho biết
dự thảo luật gồm 9 chương, 74 điều với những nội dung cơ bản như sau:
Thứ nhất, quản lý an toàn thực phẩm dựa trên kiểm soát nguy
cơ theo toàn bộ chuỗi cung ứng. Một trong những thay đổi quan trọng trong dự thảo
luật là quản lý an toàn thực phẩm, kiểm soát ngay từ khâu sản xuất ban đầu (trồng
trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, thu hái, đánh bắt, khai thác, giết mổ) đến
khi sản phẩm ra thị trường. Theo đó, dự thảo luật quy định mức giới hạn quản lý
an toàn thực phẩm về mức tồn dư lượng thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật và các
tác nhân gây ô nhiễm trong thực phẩm ngay từ khâu sản xuất ban đầu.
Về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong quá trình sơ chế,
chế biến, sản xuất và kinh doanh, bảo quản và lưu thông phân phối đến tay người
tiêu dùng: dự thảo luật quy định việc thực hiện giám sát, hậu kiểm trên thị trường
trong quá trình lưu thông của thực phẩm; tăng cường vai trò của cơ quan quản lý
nhà nước, cơ sở kiểm nghiệm trong công tác kiểm tra, giám sát, chủ động lấy mẫu
đối với thực phẩm lưu thông trên thị trường.
Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan trình bày tờ trình tóm tắt về dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi). Ảnh: Cổng thông tin điện tử Quốc hội.
Dự thảo luật chuyển đổi tư duy từ bị động sang chủ động
trong công tác quản lý an toàn thực phẩm thông qua việc xây dựng hệ thống đánh
giá, quản lý và truyền thông nguy cơ nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn chặn sự cố.
Khi sự cố xảy ra thì truy xuất nguồn gốc, thu hồi và tiêu hủy thực phẩm không
an toàn một cách nhanh chóng, hiệu quả thông qua Bộ công cụ đánh giá nguy cơ do
Ủy ban Tiêu chuẩn thực phẩm quốc tế hướng dẫn mà nhiều quốc gia trên thế giới
đang áp dụng.
Quá trình góp ý dự thảo luật, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu
Thủy sản Việt Nam (VASEP) đề xuất bổ sung vào dự thảo quy định cho phép chuyển
mục đích sử dụng cho sản phẩm nhập khẩu để chế biến xuất khẩu, gia công xuất khẩu
hay sản xuất/sử dụng cho nội bộ sang sản xuất tiêu dùng nội địa hoặc ngược lại
và giao cho Chính phủ quy định chi tiết trình tự, thủ tục kiểm tra và cấp phép
chuyển mục đích sử dụng trong các trường hợp trên.
Bên cạnh đó, kiến nghị bỏ phạm vi quản lý 'chất lượng thực
phẩm', chỉ nên tập trung vào yếu tố 'an toàn thực phẩm' là yếu tố bắt buộc, còn
'chất lượng' sản phẩm nên để doanh nghiệp và người dân tuân thủ theo quy định tại
Luật Chất lượng Sản phẩm Hàng hóa 2025.
Mặt khác, dự thảo đã quy định rõ Bộ Y tế là đầu mối quản lý,
nhưng cần phân cấp rõ ràng ngay trong Luật cho về trách nhiệm quản lý của các Bộ
chuyên ngành theo chuỗi sản phẩm….
Hiệp hội Bia – Rượu – Nước giải khát Việt Nam cũng kiến nghị
làm rõ một số vấn đề về chuẩn hóa thuật ngữ; có cơ chế lấy mẫu đối chứng và lưu
mẫu trong hoạt động kiểm ta, giám sát, hậu kiểm đối với thực phẩm đang lưu thông
trên thị trường; làm rõ sự khác nhau giữa 'hậu kiểm', 'thanh tra', 'kiểm tra' về
an toàn thực phẩm để tránh trùng lặp, khó khăn cho doanh nghiệp…
Thứ hai, cắt giảm thủ tục hành chính tối đa, cải cách
biện pháp quản lý thực phẩm, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm. Dự thảo
luật đã quy định rõ về nội dung hậu kiểm, đối tượng, nguyên tắc, biện pháp hậu
kiểm cũng như trách nhiệm của các đoàn kiểm tra, tần suất kiểm tra trên thị trường.
Khuyến khích Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các hiệp
hội ngành hàng, cộng đồng và nhân dân cùng tham gia giám sát việc an toàn thực
phẩm.
Thứ ba, thực hiện số hóa và xây dựng hệ thống thông tin dữ
liệu về an toàn thực phẩm. Để triển khai kiểm soát nguy cơ của chuỗi cung ứng
và tối ưu hóa nguồn lực triển khai, dự thảo luật quy định hệ thống thông tin dữ
liệu về an toàn thực phẩm bao gồm: thông tin về vòng đời sản phẩm, cơ sở sản xuất
kinh doanh thực phẩm, tổ chức thử nghiệm phục vụ quản lý nhà nước, lịch sử và kết
quả thanh tra, kiểm tra, giám sát, các vụ ngộ độc thực phẩm và vấn đề kết nối,
chia sẻ dữ liệu thống nhất từ trung ương đến địa phương thông qua cơ sở dữ liệu
quốc gia.
Thứ tư, quản lý kinh doanh thực phẩm trên sàn thương mại điện
tử, điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm đối với các cơ sở giao đồ ăn trực tuyến,
quản lý thức ăn đường phố và loại hình cung cấp suất ăn tập thể. Dự thảo
luật đã yêu cầu các cơ sở phải cập nhật kiến thức, kiểm soát nguồn gốc nguyên
liệu, đảm bảo điều kiện kinh doanh đáp ứng các điều kiện về an toàn thực phẩm,
cũng như tăng cường vai trò của chính quyền địa phương trong việc kiểm tra,
giám sát các loại hình kinh doanh, đặc biệt là các cơ sở kinh doanh nhỏ lẻ trên
địa bàn.
Để quản lý kinh doanh trên sàn thương mại điện tử, dự thảo
luật quy định trách nhiệm của người bán hàng trên sàn thương mại điện tử, trách
nhiệm của cơ sở giao đồ ăn trực tuyến và trách nhiệm của chủ quản nền tảng
thương mại điện tử để giám sát việc kinh doanh, truy xuất nguồn gốc, trách nhiệm
khi xảy ra ngộ độc thực phẩm hoặc nguy cơ mất an toàn.
Thứ năm, hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về an toàn thực
phẩm thống nhất từ trung ương đến địa phương. Đồng thời, thực hiện phân cấp,
phân quyền tối đa: Trên cơ sở Đề án hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về an
toàn thực phẩm thống nhất một đầu mối từ trung ương đến địa phương đã được các
cấp có thẩm quyền thông qua.
Dự thảo luật quy định Bộ Y tế là cơ quan đầu mối giúp Chính
phủ thống nhất quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm. Ủy ban nhân dân các cấp tổ
chức thực hiện quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trong phạm vi địa phương
theo hướng thống nhất một đầu mối tại mỗi cấp.
Các bộ tiếp tục phối hợp thực hiện các quy định của pháp luật
chuyên ngành và phân công của Chính phủ trong khâu sản xuất ban đầu, chống thực
phẩm giả, gian lận thương mại, kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử,
công tác phòng ngừa, đấu tranh, phát hiện, xử lý vi phạm pháp luật về thực phẩm,
kiểm tra thực phẩm xuất nhập khẩu…
Các đại biểu tham dự tại hội trường. Ảnh: Cổng thông tin điện tử Quốc hội.
Thứ sáu, các nội dung khác được dự thảo luật đưa ra gồm: xây
dựng các quy định về nguyên tắc phân tích nguy cơ, trách nhiệm thi hành và lộ
trình thực hiện để phân loại thực phẩm nguy cơ cao, nguy cơ thấp; trên cơ sở đó
áp dụng các biện pháp quản lý phù hợp.
CẦN RÀ SOÁT THỐNG NHẤT QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT
Trình bày báo cáo tóm tắt thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học,
Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thanh Hải nêu rõ Ủy ban Khoa học, Công nghệ và
Môi trường tán thành sự cần thiết sửa đổi luật; hồ sơ đã được chuẩn bị đầy đủ,
công phu, đủ điều kiện trình Quốc hội xem xét.
Ủy ban ghi nhận hồ sơ dự án đã đề xuất nhiều chính sách mới
theo hướng hiện đại, phù hợp với thông lệ quốc tế, đặc biệt là chuyển từ quản
lý tương đối đồng đều sang quản lý dựa trên mức độ rủi ro, quản lý theo chuỗi
và áp dụng tiền kiểm có trọng tâm đối với sản phẩm có nguy cơ cao, hậu kiểm đối
với sản phẩm ít nguy cơ, tần suất thanh tra căn cứ vào đặc điểm của sản phẩm, mức
độ rủi ro và lịch sử tuân thủ.
Quang cảnh phiên họp. Ảnh: Cổng thông tin điện tử Quốc hội.
Cơ quan chủ trì soạn thảo cũng đã tích cực cầu thị, tiếp thu
phần lớn ý kiến tham gia thẩm tra và thể hiện lại tại dự thảo luật mới nhất.
Tuy nhiên, Ủy ban đề nghị tiếp tục rà soát 5 vấn đề lớn như sau:
Thứ nhất, về tính khả thi, dự thảo đề xuất nhiều cơ chế mới
nhưng điều kiện để thực thi chưa được đánh giá đầy đủ, nhất là nhân lực tại địa
phương, năng lực thử nghiệm, hậu kiểm, trang thiết bị. Nếu yêu cầu siết chặt quản
lý nhưng nguồn lực chưa đáp ứng, có khả năng tiềm ẩn nguy cơ phát sinh ách tắc
khi triển khai.
Thứ hai, về hài hòa giữa quản lý và kiến tạo phát triển, đề
nghị rà soát quy định hai lớp tiền kiểm đối với hàng nhập khẩu tại Điều 39 và
yêu cầu gia hạn giấy đăng ký bản công bố sản phẩm sau 5 năm tại Điều 47. Nếu áp
dụng đồng loạt không căn cứ mức độ rủi ro và lịch sử tuân thủ sẽ làm tăng mạnh
số lượng hồ sơ, chi phí doanh nghiệp và áp lực xử lý của cơ quan quản lý.
Thứ ba, về ủy quyền lập pháp, đề nghị luật hóa tối đa các nội
dung đã rõ, đã ổn định; đối với nội dung ủy quyền phải xác định rõ nguyên tắc,
phạm vi và giới hạn, tránh hướng dẫn vượt luật hoặc phát sinh trục lợi chính
sách.
Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thanh Hải trình bày báo cáo tóm tắt thẩm tra về dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi). Ảnh: Cổng thông tin điện tử Quốc hội.
Thứ tư, về tính thống nhất của hệ thống pháp luật; Luật Chất
lượng sản phẩm, hàng hóa phân loại ba mức độ rủi ro (cao, trung bình, thấp),
trong khi dự thảo luật chia hai mức độ nguy cơ (cao và thấp). Đề nghị thống nhất
khái niệm, tiêu chí và mức độ phân loại, đồng thời rà soát sự thống nhất với Luật
Quảng cáo hiện đang trình Quốc hội. Có sự khác biệt về khái niệm thực phẩm chức
năng, thực phẩm bổ sung, thực phẩm bảo vệ sức khỏe và hình thức tự công bố sản
phẩm.
Thứ năm, về mô hình một đầu mối quản lý nhà nước, dự thảo đã
xác định Bộ Y tế là cơ quan đầu mối nhưng vẫn giao nhiều bộ cùng thực hiện quản
lý. Đề nghị tiếp tục rà soát theo nguyên tắc: một đầu mối phải đi đôi với trách
nhiệm đến cùng, phân cấp phải gắn với thẩm quyền, nguồn lực và trách nhiệm giải
trình.
Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn
Thanh Hải cũng nêu rõ ý kiến thẩm tra của Ủy ban đối với một số nội dung cụ thể:
về quyền và nghĩa vụ bảo vệ người tiêu dùng; về hành vi bị nghiêm cấm; về quy định
bắt buộc một số thực phẩm, nhóm thực phẩm phải bổ sung vi chất dinh dưỡng; về
chế tài xử lý vi phạm.
Liên quan đến dự thảo luật, tại phiên họp thẩm tra ngày
20/10/2026, ông Đậu Anh Tuấn (VCCI) cho rằng việc công bố tiêu chuẩn gọi là hậu
kiểm nhưng thiết kế là tiền kiểm.
Theo dự thảo Nghị định, cơ quan tiếp nhận vẫn được yêu cầu sửa
đổi, bổ sung hồ sơ. Như vậy "tiếp nhận" thực chất là một kết quả xử
lý hành chính mới. Hàng nhập khẩu sẽ phải nằm chờ tại cảng.
Do đó, đại diện VCCI
đề nghị luật quy định rõ doanh nghiệp được lưu thông ngay sau khi hoàn
thành nộp hồ sơ trên hệ thống thông tin. Việc tiếp nhận được thực hiện tự
động; cơ quan tiếp nhận không thẩm định trước khi lưu thông. Công khai số
hiệu tiêu chuẩn do doanh nghiệp ban hành, thay cho số tiếp nhận. Cho phép
công khai qua nhãn điện tử hoặc website của doanh nghiệp. Doanh nghiệp chịu
trách nhiệm hoàn toàn trước pháp luật về hồ sơ và an toàn sản phẩm.
Ngoài ra, theo đại diện VCCI, cần sửa quy định tại khoản 2, điều
51 theo hướng kết quả phân tích nguy cơ là căn cứ trực tiếp xác định sự cần thiết
và mức độ tiền kiểm. Thống nhất dùng thuật ngữ "rủi ro" và chia 3 cấp
độ. Đồng thời sửa khoản 2, Điều 53 theo hướng trong thời gian chưa có kết quả
phân tích, giữ nguyên các cơ chế quản lý theo rủi ro đang áp dụng.
Đặc biệt, ông Đậu Anh Tuấn nhấn mạnh về phạm vi đăng ký và
gánh nặng hồ sơ bị mở rộng.
Đơn cử, quy định về thực phẩm bảo vệ sức khỏe đã bỏ
tiêu chí "phân liều thành đơn vị liều nhỏ", vốn tương ứng với Hướng dẫn
ASEAN. Hệ quả là sữa bột, sữa nước, đồ uống dinh dưỡng có thể bị xếp vào nhóm thực
phẩm bảo vệ sức khỏe, phải đạt GMP và phải đăng ký. Đây là mở rộng tiền kiểm
thông qua thay đổi tên gọi pháp lý…
Ngoài ra, điều 47 đã giao Chính phủ quy định hồ sơ. Dự thảo Nghị
định hiện tăng hồ sơ từ 5 lên 14 thành phần, thời hạn thẩm định từ 7 ngày lên
90 ngày, kèm nghiên cứu độ ổn định theo mô hình dược phẩm…
Từ đó, đại diện VCCI kiến nghị viết rõ và chi tiết tiêu chí kèm
đánh giá tác động cụ thể, khôi phục tiêu chí phân liều trong định nghĩa thực phẩm
bảo vệ sức khỏe. Luật xác định nguyên tắc hồ sơ chỉ bổ sung 3 loại tài liệu so
với hiện hành: chứng nhận hệ thống quản lý tiên tiến (với nhóm nguy cơ cao),
phiếu kết quả thử nghiệm chỉ tiêu chất lượng, giấy ủy quyền của nhà sản xuất…
Cũng góp ý về dự thảo luật, bà Trần Ngọc Ánh, đại diện doanh nghiệp
thành viên của Hội Khoa học Kỹ thuật An toàn Thực phẩm (Vinafosa), thuộc Liên
hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam (VUSTA), cho rằng việc mở rộng đăng ký
từ 4 lên 5 nhóm thực phẩm có nguy cơ gia tăng chi phí và quá tải thẩm định. Thủ
tục cấp phép kéo dài làm tăng chi phí, gián đoạn chuỗi cung ứng và kìm hãm đổi
mới sản phẩm….
Do đó, đại diện Vinafosa đề nghị rút ngắn thời gian thẩm định,
quy định thời hạn tối đa cho toàn bộ quy trình cấp phép và trách nhiệm giải
trình của cơ quan quản lý; các yêu cầu bổ sung hồ sơ phải được tổng hợp đầy đủ,
tránh kéo dài qua nhiều vòng.
Về kiểm tra thực phẩm nhập khẩu, Vinafosa ủng hộ kiểm soát
chặt nguy cơ an toàn thực phẩm nhưng đề nghị xem xét các hạn chế của quy định
kiểm tra nhập khẩu trong dự thảo. Đó là việc mở rộng kiểm nghiệm có thể gây quá
tải và ùn tắc dây chuyền tại cảng. Tiêu chí và phương thức kiểm tra chưa rõ có
thể dẫn đến kiểm nghiệm tràn lan. Thời gian chờ có thể làm thực phẩm hết hạn
trước khi được bán, dù kết quả kiểm nghiệm đạt yêu cầu.
Từ đó, bà Trần Ngọc Ánh đề nghị quy định rõ chỉ tiêu và tỷ lệ
lấy mẫu theo nguy cơ; quy định thời hạn tối đa cho toàn bộ quy trình, trách nhiệm
xử lý chậm trễ và cơ chế ưu tiên thực phẩm dễ hư hỏng…
Đối với nội dung phê duyệt quốc gia và cơ sở sản xuất nước
ngoài, đại diện Vinafosa cũng đề nghị rà soát đầy đủ các nghĩa vụ quốc tế trước
khi ban hành; ưu tiên công nhận tương đương và sử dụng kết quả đánh giá đáng
tin cậy của nước xuất khẩu, tránh phê duyệt trùng lặp khi không cần thiết.
Ngoài ra, bà Trần Ngọc Ánh cũng nêu kiến nghị chỉ quy định bắt
buộc tăng cường vi chất khi có bằng chứng khoa học về tình trạng thiếu hụt, xác
định rõ nhóm dân cư cần can thiệp và đánh giá tổng lượng vi chất tiếp nhận để
tránh dư thừa; bỏ nghĩa vụ bắt buộc ghi số đăng ký hoặc số tiếp nhận trên nhãn,
bao bì và tài liệu kèm theo sản phẩm…