Vĩ mô Việt Nam

Chênh lệch kỳ hạn đang tạo ra rủi ro lãi suất tới các ngân hàng như thế nào?

Vietnambiz
· 7 giờ trước

Biến động lãi suất là một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh lời và quá trình cân đối vốn của các ngân hàng. Do đó, rủi ro lãi suất là một trong những yếu tố quan trọng luôn được đưa vào các báo cáo tài chính của ngân hàng.Rủi ro lãi suất phát sinh khi có sự chênh lệch về thời hạn định lại lãi suất giữa tài sản có và tài sản nợ.

Đây là loại rủi ro hiện hữu với các tổ chức tín dụng khi phần lớn nguồn vốn huy động (khoảng 80%) là ngắn hạn trong khi gần một nửa cho vay là trung dài hạn.

Ngân hàng chịu rủi ro lãi suất giữa các kỳ hạn

Một trong những chỉ tiêu được dùng đề đánh giá rủi ro lãi suất là "mức chênh lệch nhạy cảm với lãi suất nội bảng". Đây là thước đo chênh lệch giữa giá trị tài sản nhạy cảm với lãi suất và nợ phải trả nhạy cảm với lãi suất nằm trong bảng cân đối kế toán của ngân hàng.

Nếu tài sản nhạy cảm lớn hơn nợ nhạy cảm, ngân hàng hưởng lợi khi lãi suất tăng nhưng rủi ro khi lãi suất giảm. Ngược lại, khi mức chênh lệch âm, ngân hàng hưởng lợi khi lãi suất giảm nhưng chịu thiệt (chi phí vốn tăng nhanh) khi lãi suất tăng.

Số liệu tại ngày 30/6/2026 của 30 ngân hàng ghi nhận chênh lệch đáng kể giữa tài sản và nợ phải trả theo từng khoảng thời gian điều chỉnh lãi suất. Sự thay đổi rõ nhất xuất hiện quanh mốc ba tháng.

Ở kỳ dưới một tháng, khoảng 8,44 triệu tỷ đồng tài sản đến thời điểm xác lập lại lãi suất, thấp hơn 8,88 triệu tỷ đồng nợ phải trả. Chênh lệch giữa hai phía âm gần 446.000 tỷ đồng, với 20/30 ngân hàng ghi nhận trạng thái âm.

Trong kỳ 1–3 tháng, cán cân thay đổi mạnh khi quy mô tài sản đến kỳ điều chỉnh đạt gần 6,89 triệu tỷ đồng, còn nợ phải trả ở mức khoảng 3,80 triệu tỷ đồng. Chênh lệch chuyển sang dương hơn 3,08 triệu tỷ đồng, với 26/30 ngân hàng ở trạng thái dương.

Mốc 3 tháng đánh dấu sự đảo chiều của chênh lệch tái định giá.

Đến kỳ 3–6 tháng, quy mô tài sản đến kỳ điều chỉnh giảm còn hơn 4,01 triệu tỷ đồng, trong khi nợ phải trả tăng lên khoảng 4,65 triệu tỷ đồng. Chênh lệch chuyển xuống âm gần 641.000 tỷ đồng và số ngân hàng ở trạng thái âm tăng lên 26/30.

Ở kỳ 6–12 tháng, khoảng cách tiếp tục mở rộng. Tài sản đến kỳ điều chỉnh đạt khoảng 2,74 triệu tỷ đồng, thấp hơn mức 4,53 triệu tỷ đồng của nợ phải trả, tạo chênh lệch âm gần 1,79 triệu tỷ đồng; 21/30 ngân hàng ghi nhận trạng thái âm.

Bước chuyển quanh mốc ba tháng cũng xuất hiện rõ tại từng ngân hàng. Trong số 30 đơn vị, có 22 ngân hàng chuyển từ chênh lệch dương ở kỳ 1–3 tháng sang âm ở kỳ 3–6 tháng.

ACB ghi nhận mức dịch chuyển lớn nhất, từ dương khoảng 550.500 tỷ đồng xuống âm gần 224.800 tỷ đồng, tương ứng thay đổi hơn 775.000 tỷ đồng giữa hai kỳ. Agribank chuyển từ dương hơn 353.200 tỷ đồng sang âm hơn 358.100 tỷ đồng.

SHB chuyển từ dương khoảng 259.500 tỷ đồng sang âm hơn 185.200 tỷ đồng, còn Sacombank từ dương gần 246.900 tỷ đồng sang âm hơn 172.100 tỷ đồng. MB, TPBank, ABBANK, VPBank, Nam A Bank, NCB, PVcomBank và Bac A Bank cũng đổi dấu giữa hai khoảng thời gian liền kề.

ACB, Agribank dẫn đầu mức thay đổi giữa hai kỳ.

Tính từ ngày 30/6 đến hết ba tháng, chênh lệch lũy kế vẫn dương khoảng 2,64 triệu tỷ đồng. Đến mốc dưới sáu tháng, con số này còn khoảng 2 triệu tỷ đồng và tới dưới 12 tháng thu hẹp xuống khoảng 206.000 tỷ đồng.

Phần chênh lệch dương hình thành trong ba tháng đầu vẫn lớn hơn phần âm phát sinh ở các kỳ sau. Số lũy kế tới mốc 12 tháng duy trì dương, dù riêng các khoảng 3–6 tháng và 6–12 tháng đã chuyển sang âm.

Vì sao chênh lệch đảo chiều sau mốc 3 tháng?

Mỗi khoản vay, tiền gửi hoặc công cụ tài chính có một lịch điều chỉnh lãi suất riêng. Một khoản có thể tồn tại nhiều năm nhưng mức lãi vẫn được xác lập lại sau mỗi ba tháng, sáu tháng hoặc một khoảng thời gian khác theo thỏa thuận.

Chẳng hạn, một khoản vay mua nhà có thời hạn 15–20 năm vẫn có thể điều chỉnh lãi suất sau mỗi ba hoặc sáu tháng. Khoản vay có chu kỳ điều chỉnh ba tháng sẽ phản ánh mặt bằng lãi suất mới sớm hơn khoản có chu kỳ sáu tháng.

Trong 1–3 tháng sau ngày 30/6, gần 6,89 triệu tỷ đồng tài sản bước vào kỳ xác lập lại lãi suất, cao hơn nợ phải trả khoảng 3,08 triệu tỷ đồng. Phần tài sản nhạy cảm với lãi suất chiếm ưu thế rõ trong khoảng thời gian này.

Ở kỳ 3–6 tháng, lượng tài sản đến kỳ điều chỉnh giảm xuống hơn 4,01 triệu tỷ đồng, còn nợ phải trả tăng lên khoảng 4,65 triệu tỷ đồng. Cán cân từ dương hơn 3,08 triệu tỷ đồng chuyển thành âm gần 641.000 tỷ đồng.

Tại 22 ngân hàng cùng đổi dấu, tài sản tập trung nhiều hơn vào kỳ 1–3 tháng, còn nợ phải trả tập trung nhiều hơn ở kỳ 3–6 tháng. Sự khác biệt về lịch điều chỉnh giữa hai phía tạo ra bước chuyển rõ sau mốc ba tháng.

Tài sản vượt nợ phải trả trong 1–3 tháng, rồi thấp hơn ở giai đoạn sau

Khi tài sản đến kỳ điều chỉnh nhiều hơn nợ phải trả, ngân hàng ở trạng thái nhạy tài sản trong khoảng thời gian đó. Khi lượng nợ phải trả đến kỳ điều chỉnh lớn hơn, trạng thái chuyển sang nhạy nợ.

Trong trường hợp mặt bằng lãi suất tăng và các yếu tố khác giữ nguyên, thu nhập từ tài sản có thể điều chỉnh sớm hơn khi phía tài sản tái định giá trước. Ở giai đoạn nợ phải trả đến kỳ điều chỉnh nhiều hơn, chi phí vốn có thể thay đổi nhanh hơn phần thu nhập từ tài sản.

Ảnh hưởng thực tế tới thu nhập lãi thuần còn phụ thuộc vào mức biến động của lãi suất và điều kiện áp dụng đối với từng khoản vay, tiền gửi. Lãi suất tham chiếu, quyền trả nợ hoặc rút tiền trước hạn, các giao dịch phát sinh mới và hoạt động quản trị tài sản - nguồn vốn của từng ngân hàng cũng ảnh hưởng tới mức độ tác động.