Giảm lãi suất, doanh nghiệp mong được tính lại lãi vay khoản nợ cũ

Chờ giảm lãi trên hợp đồng cũ
Những tháng cuối năm 2026, ông Phạm Minh Đông, Tổng giám đốc Công ty Asia Door (TP.HCM), đang cần thêm vốn phục vụ kinh doanh nhưng vẫn chưa vay được. Trong khi nhu cầu vốn mới chưa được đáp ứng, công ty vẫn còn những khoản vay trước đây tại các ngân hàng. Bởi vậy, chủ trương giảm lãi suất mang lại cho Công ty Asia Door thêm động lực và kỳ vọng được giảm bớt chi phí trên chính những khoản nợ đang trả.
Câu chuyện của ông Đông cho thấy hai nhu cầu cùng tồn tại của doanh nghiệp là có vốn để kinh doanh và giảm áp lực từ vốn đã vay. Với doanh nghiệp đang xoay xở dòng tiền, một chương trình lãi suất thấp dành cho khoản vay mới chưa chắc giải quyết được gánh nặng của hợp đồng cũ.
Yêu cầu của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn về xem xét giảm lãi cho cả dư nợ hiện hữu và khoản vay mới, ưu tiên sản xuất, kinh doanh, không thực hiện cào bằng đã chạm đúng mong đợi của người đang vay. Nhưng từ chủ trương đến số tiền thực tế được giảm vẫn cần một lộ áp dụng cụ thể.

Theo ông Đông, muốn hỗ trợ đến đúng người cần, ngân hàng phải làm rõ cách thực hiện với từng loại hợp đồng. Với lãi suất thả nổi, doanh nghiệp cần biết được điều chỉnh ngay hay phải chờ kỳ tiếp theo; mức giảm đến từ lãi suất tham chiếu hay biên độ tính lãi. Với lãi suất cố định, việc giảm trước hạn cần được xem xét theo hợp đồng và thỏa thuận giữa hai bên.
Đây là những câu hỏi quyết định doanh nghiệp có thể tính lại chi phí vốn hay chưa. Một thông báo giảm lãi suất chưa đủ để người vay biết tháng tới mình phải trả bao nhiêu, khoản nào được giảm và ưu đãi kéo dài đến lúc nào.
Thực tế diễn biến thị trường cho thấy, một số ngân hàng đã bắt đầu điều chỉnh lãi suất cho vay. Cụ thể, Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Đông (OCB) đã áp dụng chính sách ưu đãi phân biệt theo nhóm khách hàng và thời gian cố định lãi suất ban đầu. Khoản vay cố định lãi suất trong 3 tháng đầu có chính sách khác khoản vay cố định 6 hoặc 12 tháng. Mức lãi được giới thiệu vì vậy phải được đặt trong toàn bộ thời gian vay mới có thể đánh giá lợi ích.
Trao đổi với VietnamFinance, giám đốc một doanh nghiệp trong ngành xây dựng ở TP.HCM cũng cho rằng, với những công ty còn dư nợ cũ, điều cần thiết là ngân hàng chủ động rà soát, thông báo rõ hợp đồng nào thuộc diện xem xét, mức giảm và ngày bắt đầu áp dụng. Nếu chưa đủ điều kiện, doanh nghiệp cần biết nguyên nhân để có hướng xử lý. Sự rõ ràng ấy giúp người vay lập kế hoạch mua hàng, trả lương và thanh toán cho đối tác, thay vì chỉ chờ đợi một thông báo tiếp theo.
Lãi suất giảm phải vào dòng tiền
Ông Tạ Phương Đại, Tổng giám đốc của Công ty TNHH Đầu tư phát triển xây dựng Tacons, cho rằng lãi suất cao đẩy chi phí lên trong cả chuỗi cung ứng. Doanh nghiệp chịu thêm chi phí từ nhà cung cấp nhưng khó chuyển sang giá bán vì khách hàng không chấp nhận.
Khi đầu vào tăng mà đầu ra khó điều chỉnh, phần chi phí phát sinh sẽ làm hao hụt nguồn tiền duy trì hoạt động. Bởi vậy, giảm lãi trên dư nợ cũ có thể giúp doanh nghiệp giữ lại tiền mua nguyên liệu, trả lương và thực hiện đơn hàng. Hỗ trợ đến được khâu này cũng có ý nghĩa với người lao động và các cơ sở cung ứng phía sau doanh nghiệp.

Tuy nhiên, hiệu quả phải được tính bằng dư nợ thực tế và thời gian hưởng. Cụ thể theo tính toán của giám đốc Tacons, nếu dư nợ 100 tỷ đồng giữ nguyên, giảm 1 điểm phần trăm lãi suất mỗi năm giúp tiết kiệm khoảng 1 tỷ đồng khi áp dụng đủ một năm. Nếu chỉ được hưởng trong 3 tháng, số tiền tiết kiệm xấp xỉ 250 triệu đồng. Đây là phép tính giả định, không phải mức hỗ trợ mặc nhiên dành cho mọi doanh nghiệp.
Vì vậy, các doanh nghiệp cho rằng, khi thực thi chính sách, các ngân hàng cần phân biệt thời gian triển khai chương trình với thời gian từng khoản vay được hưởng ưu đãi. Lãi suất sau ưu đãi, phí phát sinh và điều kiện sử dụng dịch vụ đều ảnh hưởng đến tổng chi phí. Một mức giảm đáng chú ý lúc công bố chỉ có ý nghĩa khi làm giảm thực sự số tiền người vay phải trả.
Dù vậy, mong muốn giảm lãi cần được đặt trong khả năng tài chính của từng ngân hàng. Chi phí cho vay còn bao gồm huy động vốn, vận hành và rủi ro tín dụng. Lãi suất huy động mới giảm chưa khiến toàn bộ nguồn vốn rẻ đi ngay, bởi những khoản tiền gửi trước đó vẫn có thời hạn và mức lãi đã cam kết.
TS Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia kinh tế, cũng cho rằng giảm lãi suất không đồng nghĩa với nới lỏng điều kiện cho vay. Duy trì chuẩn mực tín dụng giúp hạn chế nợ xấu và bảo vệ an toàn hệ thống; ngân hàng cũng cần giữ khả năng sinh lời hợp lý. Điều đó đòi hỏi việc chia sẻ lợi nhuận phải có trọng tâm, phù hợp với sức khỏe từng tổ chức tín dụng và khả năng trả nợ của khách hàng.
Trường hợp Asia Door còn gợi ra một vấn đề khác mà doanh nghiệp đang đối mặt lãi suất giảm chưa bảo đảm doanh nghiệp vay được thêm vốn. Những vướng mắc về hạn mức, tài sản bảo đảm hay hồ sơ chứng minh dòng tiền vẫn cần được xem xét. Ngân hàng cần cải thiện quy trình thẩm định, doanh nghiệp cần minh bạch tài chính, để nhu cầu vốn có cơ sở được đánh giá đầy đủ.
Vì thế, kết quả thực hiện nên được nhìn từ số khách hàng được hỗ trợ, dư nợ cũ được điều chỉnh, thời gian hưởng và tiền lãi thực giảm. Khi so sánh, cần giữ cùng cơ sở về dư nợ và thời hạn, tránh nhầm việc tiền lãi giảm do doanh nghiệp trả bớt nợ với tác động của hạ lãi suất.
Với ông Đông và những người đang lo vốn cuối năm, kỳ vọng cuối cùng nằm ở kỳ thanh toán sắp tới: khoản vay nào được giảm, giảm từ ngày nào, giữ lại được bao nhiêu tiền. Khi những câu hỏi ấy có câu trả lời cụ thể trên từng hợp đồng, chủ trương giảm lãi mới trở thành nguồn lực để doanh nghiệp tiếp tục làm ăn.