Tin tức thị trường

Nâng cao năng lực thực hiện cam kết khí hậu, kiểm kê khí nhà kính, giảm phát thải

Vneconomy
· 14 giờ trước

Cùng với hỗ trợ xây dựng các hướng dẫn và công cụ kỹ thuật phục vụ kiểm kê khí nhà kính, đo đạc, báo cáo và thẩm định (MRV) giảm phát thải; dự án CBIT đã phát triển phần mềm theo dõi thực hiện Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC); số hóa hệ thống báo cáo kiểm kê khí nhà chính cho các ngành, thí điểm kiểm kê khí nhà kính tại tỉnh Quảng Ninh; và xây dựng các công cụ theo dõi tài chính khí hậu...

Toàn cảnh hội thảo dự án 'nâng cao năng lực quản lý dữ liệu và thông tin báo cáo phù hợp với yêu cầu khung minh bạch tăng cường của Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu (CBIT). Ảnh: Nhĩ Anh
Toàn cảnh hội thảo dự án 'nâng cao năng lực quản lý dữ liệu và thông tin báo cáo phù hợp với yêu cầu khung minh bạch tăng cường của Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu (CBIT). Ảnh: Nhĩ Anh

Ngày 21/10/2026, Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp với UNDP tổ chức hội thảo tổng kết dự án 'Nâng cao năng lực quản lý dữ liệu và thông tin báo cáo phù hợp với yêu cầu khung minh bạch tăng cường của Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu (CBIT)

Dự án do Quỹ Môi trường Toàn cầu (GEF) tài trợ thông qua UNDP với tổng vốn viện trợ không hoàn lại gần 2 triệu USD, triển khai từ tháng 4/2022 đến tháng 10/2026.

CÔNG CỤ KIỂM KÊ KHÍ NHÀ KÍNH, THEO DÕI PHÁT THẢI VÀ MINH BẠCH TÀI CHÍNH KHÍ HẬU

Sau hơn 4 năm thực hiện, dự án đã hoàn thành nhiều sản phẩm và công cụ quan trọng nhằm hỗ trợ Việt Nam thực hiện Khung minh bạch tăng cường (ETF) theo Điều 13 của Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu.

Ông Bùi Đức Hiếu, Phó Cục trưởng Cục Biến đổi Khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cho rằng những kết quả đạt được của dự án đến nay không chỉ đơn thuần là việc nâng cao nhận thức, tăng cường năng lực cho các bên liên quan, mà đã trở thành những công cụ kỹ thuật trực tiếp phục vụ cho việc thực thi triển khai Kết luận số 75-KL/TƯ ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương và các Nghị định số 06/2022/NĐ-CP, Nghị định số 119/2025/NĐ-CP của Chính phủ.

Cụ thể, về tăng cường chính sách và năng lực kỹ thuật kiểm kê khí nhà kính và MRV giảm nhẹ phát thải, dự án đã xây dựng thành công các sổ tay, hướng dẫn kỹ thuật MRV cho các lĩnh vực quan trọng, trực tiếp giải bài toán kỹ thuật cho triển khai thực hiện Nghị định số 06/2022/NĐ-CP và Nghị định số 119/2025/NĐ-CP.

'Đây là thước đo chuẩn mực để các cơ sở phát thải lớn tự tính toán, báo cáo lượng phát thải của mình', ông Hiếu khẳng định.

Ông Bùi Đức Hiếu, Phó Cục trưởng Cục Biến đổi Khí hậu
Ông Bùi Đức Hiếu, Phó Cục trưởng Cục Biến đổi Khí hậu

Những kết quả đạt được của dự án đến nay không chỉ đơn thuần là việc nâng cao nhận thức, tăng cường năng lực cho các bên liên quan, mà đã trở thành những công cụ kỹ thuật trực tiếp phục vụ cho việc thực thi triển khai Kết luận số 75-KL/TƯ ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương và các Nghị định số 06/2022/NĐ-CP, Nghị định số 119/2025/NĐ-CP của Chính phủ.

Những kết quả này cũng tạo nguồn dữ liệu đầu vào rất quan trọng giúp các Bộ, ngành và địa phương tiếp tục hoàn thiện khung chính sách quản lý nhà nước các cấp về biến đổi khí hậu trong thời gian tới.

Quan trọng hơn, dự án đã hỗ trợ thiết kế nền tảng phần mềm theo dõi thực hiện Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC), từng bước số hóa quy trình báo cáo. Hệ thống dữ liệu minh bạch này là cơ sở nền tảng để cơ quan nhà nước có thể phân bổ, kiểm soát hạn ngạch phát thải một cách công bằng, chính xác theo đúng quy định pháp luật; đồng thời chuẩn bị sẵn sàng cho Báo cáo Minh bạch 2 năm một lần (BTR1) đệ trình quốc tế.

Về theo dõi và giám sát nguồn lực tài chính, dự án đã xây dựng được Bộ biểu mẫu và Sổ tay hướng dẫn theo dõi đầu tư công cho biến đổi khí hậu (có lồng ghép yếu tố giới) và thí điểm thành công cho ngành nông nghiệp. Việc minh bạch hóa dòng tài chính, làm rõ các dòng tài chính đầu tư và hiệu quả giảm phát thải chính là yếu tố quan trọng để tạo dựng niềm tin, thu hút mạnh mẽ các nguồn vốn ODA mới và kích hoạt dòng tài chính xanh từ khu vực tư nhân phục vụ cho mục tiêu chuyển đổi xanh nền kinh tế. Điều này góp phần quan trọng trong triển khai thực hiện Kết luận 75 trong điều kiện thực tế, góp phần chuyển đổi xanh toàn diện.

Ngoài ra, dự án cũng đã tạo ra một mạng lưới kết nối chuyên gia sâu rộng và trực tiếp đào tạo đội ngũ giảng viên.

'Những kết quả đạt được của dự án tạo nguồn dữ liệu đầu vào rất quan trọng giúp các Bộ, ngành và địa phương tiếp tục hoàn thiện khung chính sách quản lý nhà nước các cấp về biến đổi khí hậu trong thời gian tới,' ông Hiếu nhấn mạnh.

Bà Chu Thị Thanh Hương, Phó Trưởng phòng Quản lý phát thải và Bảo vệ tầng ô-dôn, Cục Biến đổi khí hậu chia sẻ những kết quả chính từ dự án. Ảnh: Nhĩ Anh
Bà Chu Thị Thanh Hương, Phó Trưởng phòng Quản lý phát thải và Bảo vệ tầng ô-dôn, Cục Biến đổi khí hậu chia sẻ những kết quả chính từ dự án. Ảnh: Nhĩ Anh

Thông tin cụ thể những kết quả này, bà Chu Thị Thanh Hương, Phó Trưởng phòng Quản lý phát thải và Bảo vệ tầng ô-dôn, Cục Biến đổi khí hậu, cho biết sau hơn 4 năm triển khai, dự án CBIT đã đạt nhiều kết quả trong kiểm kê khí nhà kính, quản lý dữ liệu phát thải, theo dõi tài chính khí hậu và nâng cao năng lực chuyên môn.

Trong đó, nổi bật là việc xây dựng 4 quy trình kiểm kê khí nhà kính và đo đạc, báo cáo, thẩm định (MRV), góp phần chuẩn hóa phương pháp thu thập, tính toán và báo cáo dữ liệu phát thải. Đồng thời, dự án đã xây dựng các hướng dẫn kỹ thuật cho lĩnh vực xây dựng, nông nghiệp, thủy sản và các nguồn phát thải lớn, tạo cơ sở hoàn thiện hệ thống kiểm kê khí nhà kính quốc gia.

Dự án đã xây dựng dự thảo công cụ, biểu mẫu kiểm kê khí nhà kính đối với các nguồn phát thải lớn thuộc 4 lĩnh vực: năng lượng; các quá trình công nghiệp và sử dụng sản phẩm (IPPU); nông nghiệp, lâm nghiệp và sử dụng đất khác (AFOLU); chất thải. Dự án cũng kiến nghị bổ sung 271 chỉ tiêu thống kê phục vụ kiểm kê khí nhà kính, nhằm hoàn thiện dữ liệu đầu vào, nâng cao chất lượng tính toán và báo cáo phát thải.

Trong lĩnh vực chuyển đổi số, dự án phát triển phần mềm theo dõi thực hiện NDC, cùng các biểu mẫu báo cáo điện tử, tạo nền tảng chuyển từ tổng hợp thủ công sang quản lý dữ liệu có hệ thống, phục vụ theo dõi tiến độ giảm phát thải và thực hiện nghĩa vụ báo cáo quốc tế. Bên cạnh đó, dự án hỗ trợ thí điểm kiểm kê khí nhà kính tại Quảng Ninh, xây dựng báo cáo kiểm kê và đề xuất các biện pháp giảm nhẹ phát thải năm 2025.

Đối với tài chính khí hậu, dự án đã xây dựng sổ tay, biểu mẫu hướng dẫn theo dõi đầu tư công cho biến đổi khí hậu, có lồng ghép yếu tố giới và thí điểm trong lĩnh vực nông nghiệp. Qua đó, bước đầu hình thành phương pháp xác định, phân loại và tổng hợp các dòng vốn, nâng cao tính minh bạch trong quản lý nguồn lực phục vụ chuyển đổi xanh…

CỦNG CỐ HỆ THỐNG MINH BẠCH KHÍ HẬU CHO VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN MỚI

Phát biểu tại hội thảo, ông Vũ Thái Trường, Trợ lý Đại diện Thường trú, Trưởng phòng Biến đổi khí hậu, Năng lượng và Môi trường, Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam, đánh giá 'những năm gần đây, Việt Nam đã có những bước tiến rất đáng ghi nhận trong thực hiện các cam kết khí hậu quốc tế. Cùng với hướng tới mục tiêu đạt phát thải ròng bằng '0' vào năm 2050, việc xây dựng chính sách, huy động nguồn lực và đánh giá hiệu quả các hành động khí hậu ngày càng cần dựa trên dữ liệu đáng tin cậy, có thể kiểm chứng và quản lý một cách minh bạch.

Trong bối cảnh đó, 'việc thực hiện Khung Minh bạch tăng cường (ETF) không chỉ đặt ra các yêu cầu báo cáo quốc tế theo Thỏa thuận Paris mà quan trọng hơn, đây là nền tảng để theo dõi việc thực hiện Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC), đánh giá hiệu quả các chính sách khí hậu, hỗ trợ huy động tài chính khí hậu và củng cố niềm tin của cộng đồng quốc tế đối với các nỗ lực của Việt Nam,' ông Trường nói.

Tuy nhiên, việc thực hiện ETF cũng đặt ra những yêu cầu kỹ thuật phức tạp. Từ kiểm kê khí nhà kính, theo dõi việc thực hiện NDC, báo cáo thích ứng cho đến tài chính khí hậu,… đều đòi hỏi hệ thống dữ liệu đáng tin cậy, năng lực thể chế và cơ chế phối hợp ngày càng chặt chẽ giữa các cơ quan liên quan.

Ông Vũ Thái Trường
Ông Vũ Thái Trường

Thành công lâu dài của CBIT sẽ được đo lường không chỉ bằng các sản phẩm đã hoàn thành mà còn bằng mức độ các sản phẩm đó được áp dụng vào thực tế công tác kiểm kê khí nhà kính, báo cáo triển khai NDC, chuẩn bị BTR và thực hiện các nghĩa vụ minh bạch của quốc gia.

Chính vì vậy, ông Trường cho rằng: 'CBIT đã góp phần xây dựng những nền tảng ban đầu quan trọng về phương pháp luận, công cụ, hệ thống và năng lực kỹ thuật, tạo cơ sở để Việt Nam tiếp tục hoàn thiện hệ thống minh bạch khí hậu quốc gia trong thời gian tới'.

Nhìn nhận về những kết quả của CBIT, ông Trường nhấn mạnh bốn kết quả có ý nghĩa nền tảng đối với việc thực hiện Khung Minh bạch tăng cường tại Việt Nam.

Thứ nhất, dự án đã góp phần củng cố nền tảng thể chế và kỹ thuật cho hệ thống minh bạch khí hậu quốc gia.

Thứ hai, dự án đã thúc đẩy quá trình số hóa và hiện đại hóa hệ thống dữ liệu khí hậu. Các công cụ báo cáo đã được số hóa, hệ thống theo dõi nguồn phát thải lớn, phần mềm theo dõi thực hiện NDC và các mô hình thí điểm đã tạo tiền đề cho việc chuyển đổi từ phương thức quản lý dữ liệu thủ công sang các hệ thống số hóa minh bạch và hiệu quả hơn.

Thứ ba, dự án đã mở rộng phạm vi minh bạch sang lĩnh vực tài chính khí hậu. Các nghiên cứu, hướng dẫn và hoạt động thí điểm đã góp phần đặt nền tảng cho việc theo dõi và báo cáo các dòng tài chính khí hậu trong tương lai- một nội dung ngày càng quan trọng khi Việt Nam cần huy động nguồn lực lớn để thực hiện các cam kết khí hậu.

Thứ tư, dự án đã hỗ trợ mạnh mẽ cho các hoạt động liên quan đến tăng cường năng lực và thúc đẩy tính bao trùm.

Với những kết quả đạt được, ông Trường nhấn mạnh đây là thời điểm để chuyển từ giai đoạn xây dựng nền tảng sang vận hành, duy trì và mở rộng và phát huy hiệu quả lâu dài.

Nêu những ưu tiên trong giai đoạn tiếp theo, ông Trường cho rằng trước hết, cần bảo đảm các phương pháp luận, hướng dẫn kỹ thuật, hệ thống và công cụ được phát triển trong khuôn khổ CBIT được tiếp nhận chính thức, lồng ghép vào chức năng nhiệm vụ của các cơ quan liên quan và được sử dụng thường xuyên.

Bên cạnh đó cần tiếp tục đầu tư cho năng lực, đào tạo, tập huấn liên tục và duy trì các nền tảng tri thức được xây dựng từ dự án. 'Thành công của một hệ thống minh bạch không chỉ phụ thuộc vào công nghệ mà còn phụ thuộc vào con người, kiến thức chuyên môn và khả năng phối hợp hiệu quả giữa các bên liên quan,'ông Trường nói.

Tại hội thảo, các chuyên gia đã chia sẻ cụ thể các yêu cầu của khung minh bạch tăng cường kiểm kê khí nhà kính và MRV; giới thiệu phần mềm theo dõi thực hiện giảm phát thải khí nhà kính; báo cáo kiểm kê các nguồn phát thải lớn, số hóa biểu mẫu và công cụ điện tử; giới thiệu các hướng dẫn quy trình kiểm kê khí nhà kính trong lĩnh vực trồng trọt, xi măng...