Tin tức thị trường

Xuất khẩu cà phê đạt 8,5 tỷ USD, phân khúc chế biến tăng tưởng ấn tượng

Vneconomy
· 13 giờ trước

Niên vụ 2025-2026, xuất khẩu cà phê Việt Nam bứt phá mạnh về sản lượng khi đạt 1,8 triệu tấn, thu về 8,5 tỷ USD. Dù giá bán hạ nhiệt khiến kim ngạch chỉ tăng nhẹ 1%, nhưng phân khúc cà phê chế biến vẫn ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng, đóng góp 1,5 tỷ USD vào tổng kim ngạch...

Niên vụ 2025-2026, xuất khẩu cà phê Việt Nam bứt phá mạnh về sản lượng. Ảnh: Chu Khôi.
Niên vụ 2025-2026, xuất khẩu cà phê Việt Nam bứt phá mạnh về sản lượng. Ảnh: Chu Khôi.

Theo số liệu vừa được Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam (VICOFA) công bố, sản lượng cà phê Việt Nam trong niên vụ 2025-2026 ước đạt gần 1,9 triệu tấn, tăng 6-10% so với niên vụ trước. Trong đó, Robusta chiếm hơn 90% tổng sản lượng.

Tính từ ngày 1/10/2025 đến hết ngày 30/9/2026, xuất khẩu cà phê đạt khoảng 1,8 triệu tấn, tăng 21% so với niên vụ 2024-2025. Tuy nhiên, kim ngạch đạt  8,5 tỷ USD, chỉ tăng khoảng 1%, chủ yếu do giá cà phê giảm so với giai đoạn đạt đỉnh trước đó.

Cà phê nhân tiếp tục chiếm phần lớn lượng hàng xuất khẩu, với khoảng 1,65 triệu tấn, mang về gần 7 tỷ USD. So với niên vụ trước, sản lượng nhóm hàng này tăng 21,4%, nhưng giá trị giảm 1,5%.

CÀ PHÊ CHẾ BIẾN TĂNG TRƯỞNG TÍCH CỰC

Diễn biến giá trong niên vụ cho thấy áp lực ngày càng rõ khi nguồn cung thế giới phục hồi. Trong những tháng đầu vụ, từ tháng 10/2025 đến tháng 1/2026, giá Robusta xuất khẩu tại cảng TP. Hồ Chí Minh dao động trong khoảng 4.800–5.100 USD/tấn, trong bối cảnh tồn kho thấp và nhu cầu giao hàng cao.

Từ tháng 2/2026, giá bắt đầu giảm khi triển vọng sản lượng tại Brazil và Việt Nam được cải thiện. Đến tháng 5/2026, giá xuất khẩu bình quân còn khoảng 4.411 USD/tấn. Trong tháng 8 và tháng 9/2026, giá tiếp tục dao động quanh mức 3.500–4.000 USD/tấn.

Tại thị trường trong nước, cuối tháng 9/2026, giá cà phê ở Tây Nguyên phổ biến ở mức 93.000-93.600 đồng/kg, giảm đáng kể so với mức 115.000-118.000 đồng/kg vào cuối năm 2025.

Theo VICOFA, nguồn cung cà phê thế giới đang dần phục hồi, tạo sức ép giảm giá. Trong khi đó, nhiều nông dân Việt Nam có xu hướng giữ hàng, chỉ bán khi cần thiết thay vì bán ồ ạt ngay sau thu hoạch.

Trái với diễn biến giảm giá của cà phê nhân, nhóm sản phẩm chế biến tiếp tục ghi nhận kết quả khả quan. Trong niên vụ 2025-2026, xuất khẩu cà phê chế biến đạt khoảng 142.600 tấn, với kim ngạch 1,5 tỷ USD, tăng lần lượt 15% và 14% so với niên vụ trước.

Kết quả này phản ánh xu hướng gia tăng đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam vào các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, đặc biệt là cà phê rang xay, cà phê hòa tan và các dòng sản phẩm chế biến sâu.

Về thị trường, EU tiếp tục là khách hàng lớn nhất, chiếm hơn 38% lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam. Mỹ và Nhật Bản duy trì vai trò là những thị trường quan trọng, trong khi nhu cầu từ Trung Quốc đang mở rộng, nhất là đối với cà phê hòa tan.

Bên cạnh chất lượng sản phẩm, yêu cầu truy xuất nguồn gốc và tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường ngày càng tác động đến khả năng tiếp cận thị trường. Theo thông tin từ VICOFA, những lô cà phê đáp ứng Quy định chống phá rừng của EU (EUDR) có thể được người mua trả thêm khoảng 50 USD/tấn.

Tuy nhiên, doanh nghiệp cà phê Việt Nam cũng phải cạnh tranh gay gắt hơn với Brazil và Uganda, những quốc gia đang đẩy mạnh sản xuất, chế biến và mở rộng thị trường Robusta.

Theo ước tính của Tổ chức Cà phê Quốc tế (ICO), sản lượng cà phê toàn cầu trong niên vụ 2025–2026 đạt khoảng 183,6 triệu bao, tăng 4,4% so với niên vụ trước. Trong khi đó, tiêu thụ dự kiến giảm 0,8%, xuống còn 180,6 triệu bao.

Như vậy, nguồn cung cà phê thế giới được dự báo vượt nhu cầu khoảng 3 triệu bao, đánh dấu sự đảo chiều sau bốn năm liên tiếp thị trường thiếu hụt. Diễn biến này tiếp tục đặt ra áp lực đối với giá cà phê, đồng thời cho thấy yêu cầu nâng cao chất lượng, phát triển chế biến sâu và đáp ứng tiêu chuẩn thị trường sẽ ngày càng quan trọng đối với ngành cà phê Việt Nam.

XUẤT KHẨU TĂNG MẠNH VỀ LƯỢNG, NHƯNG GIÁ GIẢM SÂU

Theo số liệu Cục Hải quan, tháng 9/2026, Việt Nam xuất khẩu 122.700 tấn cà phê, trị giá 554,6 triệu USD, tăng lần lượt 51,3% về lượng và 20,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025.

Lũy kế 9 tháng năm 2026, xuất khẩu cà phê đạt 1,45 triệu tấn, trị giá 6,57 tỷ USD, tăng 16,3% về lượng nhưng giảm 6,9% về giá trị. Giá xuất khẩu bình quân đạt 4.524 USD/tấn, giảm 20% so với cùng kỳ năm trước. Riêng tháng 9/2026, giá bình quân đạt 4.519 USD/tấn, tăng 1,1% so với tháng trước nhưng giảm 20,6% so với cùng kỳ năm 2025.

Trong 9 tháng đầu năm 2026, châu Âu tiếp tục là khu vực xuất khẩu chủ lực của cà phê Việt Nam. Lượng hàng xuất khẩu sang các thị trường lớn như Đức, Ý, Tây Ban Nha và Bỉ đều tăng so với cùng kỳ năm trước.

Tại châu Á, xuất khẩu sang Trung Quốc đạt 54.600 tấn, trị giá 279,6 triệu USD, tăng 48,8% về lượng và 53,1% về giá trị. Xuất khẩu sang Nhật Bản đạt 95.900 tấn, trị giá 473,1 triệu USD, tăng 25,6% về lượng nhưng giảm 1,4% về giá trị do giá xuất khẩu đi xuống.

Tại Mỹ, xuất khẩu cà phê đạt 103.400 tấn, trị giá 441,2 triệu USD, tăng 46% về lượng và 13,8% về giá trị. Trong khi đó, xuất khẩu sang Algeria tăng 6,4% về lượng, góp phần đa dạng hóa thị trường tiêu thụ.

Trong tháng 10/2026, giá cà phê thế giới chịu áp lực giảm do xuất khẩu của Brazil tăng. Tuy nhiên, đà giảm được hạn chế bởi tồn kho Robusta được chứng nhận trên sàn ICE thu hẹp và nguồn cung Arabica tại một số nước sản xuất giảm.

Tại thị trường trong nước, giá cà phê nửa đầu tháng 10/2026 cũng giảm theo xu hướng thế giới. Nguồn cung cuối vụ hạn chế và nhu cầu thu mua phục vụ xuất khẩu đã góp phần kìm hãm đà giảm.

VICOFA nhận định xuất khẩu cà phê những tháng cuối năm được kỳ vọng khởi sắc nhờ nguồn cung từ vụ thu hoạch mới và nhu cầu nhập khẩu phục vụ mùa tiêu dùng cuối năm. Nhu cầu Robusta dùng để phối trộn tiếp tục là yếu tố hỗ trợ, tạo cơ hội để Việt Nam mở rộng thị phần nhờ nguồn cung lớn, giá cạnh tranh và khả năng đáp ứng đơn hàng.

Tuy nhiên, quỹ đất canh tác hạn chế, áp lực nguồn nước, thời tiết khó lường và chi phí sản xuất tăng đang gây khó khăn cho việc mở rộng nguồn cung. Bên cạnh đó, sản lượng Brazil phục hồi có thể giảm áp lực thiếu hụt trong ngắn hạn, nhưng để thị trường bước vào chu kỳ dư cung, nguồn hàng mới cần duy trì đủ lâu nhằm cải thiện tồn kho và đáp ứng nhu cầu tiêu thụ.