Khơi thông nguồn lực thúc đẩy phát triển kinh tế biển

Góp ý kiến vào dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục hoàn thiện dự thảo luật; đồng thời làm rõ một số nội dung để luật vừa tạo động lực phát triển kinh tế biển, vừa bảo vệ môi trường, chủ quyền và lợi ích quốc gia, hướng mục tiêu phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh...
Ngày 24/10, Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng đã trình Quốc hội tờ trình dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi). Quốc hội cũng đã thảo luận tại tổ về dự án luật này.
Theo Bộ trưởng Hoàng Thanh Tùng, việc xây dựng, trình Quốc hội xem xét, ban hành Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) nhằm thể chế hóa đầy đủ quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng; đặc biệt là các quan điểm chỉ đạo tại Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nghị quyết số 20 và Kết luận số 75 của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới.
ĐÁP ỨNG YÊU CẦU PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN, QUẢN LÝ KHÔNG GIAN BIỂN
Việc ban hành luật còn đẩy mạnh phân cấp, phân quyền phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp, tập trung giải quyết các vấn đề phát sinh trong thực tiễn công tác bảo vệ môi trường, yêu cầu phát triển kinh tế biển, quản lý không gian biển, yêu cầu của hội nhập quốc tế. Qua đó tháo gỡ các điểm nghẽn, khơi thông các nguồn lực phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội...
Cụ thể, về quản lý không gian biển, dự thảo luật xác định quy hoạch không gian biển quốc gia là công cụ trung tâm để phân bổ nguồn lực, điều hòa nhu cầu sử dụng và giải quyết xung đột giữa các ngành, địa phương; gắn điều phối liên ngành, liên vùng với dữ liệu số dùng chung; phân định rõ trách nhiệm và ranh giới quản lý trên biển.
Dự thảo luật cũng quy định việc giao, cho thuê, đăng ký đấu giá quyền sử dụng khu vực biển, cơ chế sử dụng chung, sử dụng đa mục đích phù hợp với quy hoạch, yêu cầu bảo vệ môi trường, quốc phòng, an ninh. Cùng với đó, quy định việc cấp giấy chứng nhận, đăng ký biến động, quản lý hồ sơ hành chính gắn với kết nối, chia sẻ dữ liệu và giải quyết thủ tục hành chính; bảo đảm quyền tiếp cận biển hợp pháp của người dân và sự tham gia của cộng đồng.
Thay mặt cơ quan thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thanh Hải cho biết Ủy ban tán thành sự cần thiết sửa đổi dự án luật. Tuy nhiên, cơ quan thẩm tra đề nghị tiếp tục rà soát thể chế đầy đủ Kết luận số 75-KL/TW nội dung về 'cơ chế thử nghiệm có kiểm soát' đối với mô hình kinh doanh xanh, tuần hoàn; yêu cầu 'Bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho sự nghiệp bảo vệ môi trường'.
Ủy ban đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo chịu trách nhiệm toàn bộ về tính khả thi, minh bạch đối với các chính sách mới được đề xuất trong Luật, không tạo khoảng trống hoặc điểm nghẽn mới làm phát sinh tiêu cực hoặc cản trở, ách tắc trong triển khai.
Việc dự thảo mở rộng phạm vi từ quản lý phân tán theo ngành sang quản trị tổng hợp, thống nhất không gian biển là bước tiến rất quan trọng, một khu vực biển có thể đồng thời sử dụng cho nhiều lĩnh vực như hàng hải, thủy sản, dầu khí, điện gió, quốc phòng, du lịch và bảo tồn,…
Tuy nhiên, để đảm bảo không chồng chéo với các luật chuyên ngành, cơ quan thẩm tra đề nghị bổ sung nguyên tắc quản lý tổng hợp không gian biển không thay thế pháp luật chuyên ngành; Quy hoạch không gian biển quốc gia là căn cứ định hướng để phân bổ không gian biển nhưng giấy phép chuyên ngành sẽ quyết định điều kiện hoạt động cụ thể trong không gian biển đã được xác định.
Về cơ chế điều phối liên ngành, để khắc phục tình trạng 'nhiều người quản nhưng không rõ trách nhiệm'; phòng ngừa và giải quyết xung đột, chồng lấn trong khai thác sử dụng biển giữa các ngành, Ủy ban đề nghị bổ sung các quy định: quy hoạch không gian biển quốc gia có hiệu lực ưu tiên cao nhất; mỗi hoạt động sử dụng biển phải có cơ quan chịu trách nhiệm chính; xác định cơ quan có thẩm quyền ra quyết định cuối cùng khi phát sinh chồng lấn, xung đột trong sử dụng không gian biển.
Về quyền sử dụng khu vực biển, dự thảo Luật đã quy định ba hình thức: giao, cho thuê và xác nhận đăng ký sử dụng khu vực biển. Tuy nhiên, chưa làm rõ bản chất pháp lý, quyền và nghĩa vụ của từng hình thức. Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng đối với việc triển khai các dự án lớn trên biển như điện gió ngoài khơi, dự án dầu khí, nuôi biển công nghiệp và hạ tầng trên biển, vì nhà đầu tư chỉ có thể huy động được nguồn vốn dài hạn khi họ có quyền sử dụng không gian biển ổn định và có giá trị pháp lý.
Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường đề nghị bổ sung quy định riêng đối với từng hình thức về: đối tượng áp dụng; quyền chuyển nhượng, thế chấp, góp vốn; quan hệ của quyền sử dụng với giấy phép chuyên ngành... Quy định rõ như vậy sẽ tạo cơ sở pháp lý để định giá quyền, huy động vốn và chuyển giao dự án; bảo đảm tính khả thi.
Về cơ chế ưu đãi và Quỹ không gian biển, thực tiễn cho thấy, các ngành kinh tế biển mới, cần không gian để thử nghiệm công nghệ và mô hình kinh doanh mới. Dự thảo luật đã bổ sung các cơ chế ưu đãi, hỗ trợ và thử nghiệm có kiểm soát đồng thời đề xuất Quỹ không gian biển, tuy nhiên các quy định còn chung, khó áp dụng. Ủy ban đề nghị bổ sung quy định rõ tiêu chí, đối tượng, mức độ, thời hạn ưu đãi...
TẠO ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN
Thảo luận tại tổ về dự án luật, các đại biểu nhận định, sau hơn 10 năm thực hiện, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo đã tạo được cơ sở pháp lý quan trọng cho việc quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo, góp phần khai thác, quản lý tài nguyên hợp lý, phát triển kinh tế biển,...
Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển và quản trị biển hiện đại, việc triển khai quy hoạch không gian biển quốc gia và sự xuất hiện của nhiều ngành kinh tế biển mới, việc xây dựng và sửa đổi luật là cần thiết. Điều này nhằm hoàn thiện các thể chế quản lý tổng hợp tài nguyên không gian biển, bảo vệ môi trường biển và hải đảo, tạo cơ sở pháp lý để phát triển biển hiện đại, phát huy hiệu quả nguồn lực từ biển và thúc đẩy phát triển kinh tế biển xanh bền vững.
Theo đại biểu Chu Lương Trí, Đoàn Đại biểu Quốc hội TP.Quảng Ninh, không gian biển là nguồn lực rất quan trọng, nhưng hiện nay vướng mắc chủ yếu nằm ở vấn đề chồng lấn mục đích sử dụng không gian biển. Do vậy, cần tháo gỡ tình trạng chồng lấn quy hoạch (về quốc phòng, an ninh, về bảo tồn với phát triển kinh tế) làm hạn chế nguồn lực phát triển của các địa phương có biển, đảo.
Đóng góp ý kiến vào dự án luật Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên nêu rõ: Nghị quyết số 20-NQ/TW Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh nên việc ban hành luật này nhằm thể chế kịp thời những quan điểm, chủ trương của Đảng bằng pháp luật, cũng như khắc phục những hạn chế tồn tại trong quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên biển, bảo vệ môi trường biển và hải đảo là một trong những nhiệm vụ rất quan trọng. Đây là luật có phạm vi điều chỉnh rất rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực, tác động trực tiếp đến hoạt động đầu tư kinh doanh, quyền tài sản của tổ chức và cá nhân, yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh và chủ quyền quốc gia trên biển.
Về quyền sử dụng khu vực biển, đấu giá và chính sách ưu đãi phát triển kinh tế biển được đề cập trong dự thảo Luật, Phó Chủ tịch Quốc hội cho rằng đây là nhóm vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với việc huy động nguồn lực đầu tư, phát triển các ngành kinh tế biển mới, nhất là điện gió ngoài khơi, cảng biển, hạ tầng năng lượng... Vì vậy, cần tiếp tục rà soát hoàn thiện các quy định này, bảo đảm đồng thời ba yêu cầu: khơi thông nguồn lực, cạnh tranh minh bạch và bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc.
Cụ thể, các quy định về giao, cho thuê, đăng ký, đấu giá và thực hiện quyền sử dụng khu vực biển cần được rà soát hoàn thiện theo hướng minh bạch, ổn định, có thể dự đoán được, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư; đồng thời không làm ảnh hưởng đến quốc phòng an ninh và lợi ích quốc gia, dân tộc.
Bên cạnh đó, cần rà soát chặt chẽ các trường hợp giao hoặc cho thuê quyền sử dụng khu vực biển không thông qua đấu giá. Quy định rõ điều kiện, tiêu chí và thẩm quyền quyết định đối với từng trường hợp không đấu giá, yêu cầu công khai về lý do, căn cứ áp dụng và trách nhiệm giải trình, tránh quy định ngoại lệ quá rộng sẽ làm giảm tính cạnh tranh, công khai và hiệu quả sử dụng nguồn lực biển.
Ngoài ra, rà soát, bổ sung quy định về đối tượng, điều kiện, mức độ, thời hạn và nguồn lực thực hiện cơ chế chính sách ưu đãi hỗ trợ phát triển kinh tế biển, hải đảo. Phân biệt cụ thể chính sách đặc thù của Luật này với các chính sách đã được quy định trong pháp luật về đầu tư, thuế, tín dụng và các quy định khác có liên quan…
Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục hoàn thiện dự thảo Luật theo hướng làm rõ ranh giới thẩm quyền giữa quản lý tổng hợp và quản lý chuyên ngành; làm rõ đầu mối thẩm quyền quyết định và trách nhiệm giải trình khi có xung đột liên ngành; làm rõ tiêu chí ngoại lệ trong đấu giá quyền sử dụng khu vực biển và căn cứ chấm dứt, thu hồi ưu đãi, bảo đảm quản lý tổng hợp, không chồng lấn quản lý chuyên ngành. Các cơ chế đặc thù không trở thành ngoại lệ thiếu kiểm soát, đồng thời bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của người dân, doanh nghiệp, tạo môi trường pháp lý minh bạch, ổn định cho phát triển kinh tế bền vững.
Theo Phó Chủ tịch Quốc hội, đây là điều kiện quan trọng để luật vừa tạo động lực phát triển kinh tế biển, vừa bảo vệ môi trường, chủ quyền và lợi ích quốc gia, hướng tới mục tiêu phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh trong tương lai.