Từ câu chuyện của thành phố trẻ nhất cả nước
Ngày 20/9 tới, Bắc Ninh sẽ trở thành thành phố trực thuộc Trung ương thứ 9 của cả nước. Ông Nguyễn Phương Bắc, nguyên Phó giám đốc Sở Tài chính tỉnh Bắc Ninh hào hứng nhắc đến dấu mốc này khi nói về mục tiêu tăng trưởng 2 con số của Bắc Ninh trong giai đoạn 2026-2030.
Theo cách nhìn của ông Bắc, Bắc Ninh đang có một 'cú hích kép'. Đó là vị thế của một thành phố trẻ và những công cụ pháp lý mới để vận hành vị thế đó xuất hiện gần như cùng lúc. 'Hai lần sắp xếp đơn vị hành chính liên tiếp đã tạo không gian, quy mô và nguồn lực mới cho Bắc Ninh', ông Bắc nói.
Khi hợp nhất Bắc Ninh và Bắc Giang vào tháng 6/2025, những điểm nghẽn về quỹ đất, nguồn cung lao động… của Bắc Ninh được bổ sung bằng không gian và nguồn lực mới từ Bắc Giang. Cứ điểm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) bứt phá trở lại, với vị trí thứ 3 cả nước trong 8 tháng đầu năm 2026, khi có được 3.428,7 triệu USD đăng ký từ 252 dự án.
Tới đây, TP. Bắc Ninh không chỉ có vị thế là nằm trọn trong Vùng Thủ đô, trên Hành lang kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh có hệ thống hạ tầng giao thông, cảng biển, sân bay tốt nhất cả nước, mà còn có nền tảng công nghiệp điện tử - bán dẫn hàng đầu cả nước, với sự có mặt của các tập đoàn công nghệ toàn cầu.
Là thành phố trực thuộc Trung ương, Bắc Ninh sẽ có thêm dư địa thể chế, cơ chế đặc thù về phân cấp ngân sách, thẩm quyền trong quản lý quy hoạch, đầu tư, quản lý đô thị khi Luật Phát triển đô thị có hiệu lực vào tháng 10 tới. Không gian của Thành phố mới sẽ mở rộng theo cơ cấu đa cực, từ công nghiệp - đô thị đến du lịch sinh thái…
'Mục tiêu tăng trưởng 10%, thậm chí tới 11-12% trong giai đoạn 2026-2030, có lẽ không quá khó với Bắc Ninh', ông Bắc nhận định. Tuy nhiên, ông đặt vấn đề, câu hỏi khó hơn nằm phía sau các con số tăng trưởng. Đó là tốc độ ấy có thể đưa Bắc Ninh trở thành trung tâm điều phối giá trị vùng thay cho cứ điểm sản xuất hay không.
Đến bài kiểm tra về khả năng chuyển đổi mô hình tăng trưởng
Trường hợp Bắc Ninh được đưa ra tại Hội thảo về xác lập mô hình tăng trưởng mới của Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (NIEF - Bộ Tài chính) không phải ngẫu nhiên.
Trong gần hai thập kỷ, công thức tăng trưởng của Bắc Ninh khá rõ ràng: công nghiệp, FDI, xuất khẩu và sự hiện diện ngày càng lớn của các tập đoàn điện tử toàn cầu. Mô hình này từng phát huy hiệu quả rất mạnh. Có những giai đoạn, khu vực Bắc Ninh cũ tăng trưởng 15-16%. Nhưng ngay trên nền tảng ấy đã xuất hiện nghịch lý: xuất khẩu lớn, sản xuất công nghiệp tăng nhanh, nhưng tỷ lệ giá trị gia tăng trên giá trị sản xuất của điện tử, bán dẫn, cơ điện tử còn thấp; tăng trưởng vẫn dựa nhiều vào gia công, lắp ráp và khu vực FDI. Bắc Ninh đang đứng trước bài toán của một nền kinh tế đã đi qua giai đoạn tăng trưởng bằng cách mở rộng quy mô.
Tại Hội thảo của NIEF, câu chuyện Bắc Ninh được đặt trong bài toán lớn hơn của nền kinh tế. Bà Lê Thị Mai Liên, Trưởng ban Ban Kinh tế vĩ mô và Dự báo (NIEF) đề cập những hạn chế mang tính cơ cấu của nền kinh tế giai đoạn 2021-2025 đã được tổng kết tại Kết luận số 18-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia, vay, trả nợ công và đầu tư công trung hạn 2026-2030 gắn với mục tiêu phấn đấu tăng trưởng 2 con số.
Thách thức của nền kinh tế giai đoạn 2026-2030 không còn đơn thuần là 'tăng thêm năng lực sản xuất', mà là nâng cấp chất lượng của năng lực sản xuất hiện hữu, gia tăng giá trị nội địa và hình thành các năng lực công nghệ có tính tự chủ.
Sản xuất và xuất khẩu còn phụ thuộc lớn vào khu vực FDI; năng lực doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi giá trị toàn cầu chưa tương xứng. Công nghiệp hỗ trợ, đổi mới công nghệ, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và nhân lực công nghệ cao vẫn là các điểm nghẽn…
Vì vậy, bà Liên khẳng định, thách thức của nền kinh tế giai đoạn 2026-2030 không còn đơn thuần là 'tăng thêm năng lực sản xuất', mà là nâng cấp chất lượng của năng lực sản xuất hiện hữu, gia tăng giá trị nội địa và hình thành các năng lực công nghệ có tính tự chủ.
Với góc nhìn này, yêu cầu phấn đấu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên trong giai đoạn 2026-2030, đồng thời bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và các cân đối lớn có ý nghĩa như một 'bài kiểm tra' về khả năng chuyển đổi mô hình tăng trưởng của nền kinh tế.
Nếu giai đoạn 2021-2025 chủ yếu tạo lập nền tảng phục hồi và mở rộng quy mô, thì giai đoạn 2026-2030 phải tạo bước chuyển về năng suất, công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực và hiệu quả sử dụng nguồn lực. Thành công của giai đoạn này phải được đánh giá đồng thời bằng tốc độ tăng GDP, mức tăng năng suất lao động và Năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP), năng lực công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam, chất lượng nguồn nhân lực, hiệu quả sử dụng vốn, quy mô kinh tế số, mức độ tự chủ chiến lược và chất lượng đời sống nhân dân.
Bài kiểm tra này khó ở chỗ, nền kinh tế Việt Nam không bước vào giai đoạn tăng trưởng 2 con số với mô hình tăng trưởng đã sẵn sàng cho mục tiêu đó. TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính và tiền tệ quốc gia nhấn rất mạnh ý này.
Trước hết, bối cảnh bên ngoài không còn thuận lợi. Kinh tế thế giới giai đoạn 2026-2030 vẫn tăng trưởng khoảng 3%, thấp hơn mức bình quân 3,5% của giai đoạn 2021-2025. Thương mại toàn cầu cũng chỉ được dự báo tăng 3-3,5%, thấp hơn mức 3,7% của giai đoạn trước. Cùng lúc, xung đột địa chính trị, cạnh tranh thương mại - công nghệ, phân mảnh và bảo hộ gia tăng; lạm phát, lãi suất cùng các rủi ro về năng lượng, lương thực, chuỗi cung ứng và an ninh mạng - dữ liệu tiếp tục gây sức ép.
'Nói cách khác, Việt Nam phải tăng tốc trong một thế giới không còn tăng trưởng nhanh như trước và cũng không còn vận hành theo những quy luật thương mại tương đối ổn định của giai đoạn trước', ông Lực phân tích.
Trong nước, thách thức còn rõ hơn: GDP giai đoạn 2021-2025 tăng bình quân 6,3%/năm, trong khi mục tiêu giai đoạn 2026-2030 được nâng lên ít nhất 10%. Nhưng cùng lúc, tốc độ tăng năng suất lao động phải tăng từ mức thực hiện 5,2% lên khoảng 8,5%/năm; đóng góp của TFP phải tăng từ 47% lên trên 55%; tỷ trọng kinh tế số từ khoảng 14% lên 30% GDP. Vốn đầu tư toàn xã hội cũng phải tăng từ mức bình quân 33,3% GDP lên khoảng 40%.
Nhưng đây chính là những chỉ tiêu chưa đạt được của giai đoạn 2021-2025. 'Thực tế này đòi hỏi chúng ta phải nỗ lực gấp nhiều lần', ông Lực nói.
Tìm lời giải từ những bước đi không tuần tự
Theo Ngân hàng Thế giới, các nền kinh tế vượt qua bẫy thu nhập trung bình thường đi từ tăng trưởng dựa vào vốn, đến công nghệ và cuối cùng là đổi mới sáng tạo. Nhưng có lẽ đây không phải là cách phù hợp với Việt Nam. 'Chúng tôi kiến nghị với lãnh đạo Đảng, Nhà nước là phải làm đồng thời cả ba. Có như vậy mới đạt được hai con số', ông Lực bày tỏ quan điểm.
Mô hình tính toán của ông Lực và cộng sự đang cho thấy rõ cơ sở của khuyến nghị này. Trong đó, nếu chuyển đổi số tốt, khoa học công nghệ tốt, thì mỗi năm nền kinh tế sẽ có thêm từ 1 đến 1,2 điểm phần trăm tăng trưởng cao thêm. Cải cách thể chế qua việc bớt đi 30-50% thủ tục hành chính cũng tạo thêm khoảng 0,6 điểm phần trăm cho tăng trưởng. Sử dụng các dự án trọng điểm tốt cũng cộng thêm vào tăng trưởng mỗi năm thêm khoảng 0,6 điểm phần trăm... Tổng hợp lại, các động lực tăng trưởng mới giúp nền kinh tế có thêm khoảng 3 điểm phần trăm.
Tại Hội thảo, các chuyên gia đã kiến nghị hình thành một chương trình quốc gia thống nhất về đổi mới mô hình tăng trưởng giai đoạn 2026-2030, trong đó 3 đột phá phải được triển khai đồng thời: đột phá thể chế để giải phóng nguồn lực; đột phá khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, dữ liệu và AI để nâng năng suất; đột phá về hạ tầng, nhân lực và doanh nghiệp để tạo năng lực sản xuất mới.
Đặc biệt, dứt khoát phải tiếp tục nâng cao chất lượng tăng trưởng và chất lượng đầu tư khi vốn đầu tư vẫn sẽ góp khoảng 38-39% tăng trưởng giai đoạn tới. Hiện tại, Chỉ số ICOR của Việt Nam đang ở mức cao 6,4 trong giai đoạn 2021-2025.
Trở lại với Bắc Ninh, ông Bắc đang đề xuất chuyển từ tăng trưởng dựa vào vốn và gia công sang tăng trưởng dựa vào năng suất, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và nhân lực chất lượng cao. 'Phải đưa chỉ tiêu VA/GO (chỉ tiêu giữa giá trị gia tăng và giá trị sản xuất) thành chỉ tiêu điều hành song hành với tốc độ tăng trưởng GRDP', ông Bắc đề xuất.
