Nền tảng số bùng nổ, bài toán quản lý ngày càng phức tạp

Các nền tảng số thay đổi thị trường dịch vụ Hà Nội
Sự hiện diện của các nền tảng công nghệ đang ngày càng rõ nét trong đời sống kinh tế Hà Nội. Từ việc đặt phương tiện di chuyển, gọi đồ ăn, mua sắm hàng hóa đến tìm kiếm phòng nghỉ hay sử dụng dịch vụ giao nhận, nhiều hoạt động trước đây phải thực hiện trực tiếp nay có thể hoàn thành thông qua một ứng dụng trên điện thoại thông minh.
Tại Hà Nội, các nền tảng như Grab, Be, Xanh SM trong lĩnh vực vận tải hay ShopeeFood, GrabFood, beFood trong lĩnh vực giao đồ ăn đã trở thành những kênh cung cấp dịch vụ quen thuộc. Các ứng dụng này giúp người tiêu dùng tiếp cận dịch vụ thuận tiện hơn, đồng thời tạo thêm cơ hội kinh doanh cho nhà hàng, hộ kinh doanh và lực lượng lao động giao nhận.
Theo báo cáo của Momentum Works công bố đầu năm 2026, tổng giá trị giao dịch của thị trường giao đồ ăn trực tuyến Việt Nam đạt khoảng 2,1 tỷ USD trong năm 2025, tăng 19% so với năm trước. Trong đó, ShopeeFood và GrabFood mỗi nền tảng chiếm khoảng 48% thị phần trong phạm vi thống kê của báo cáo, còn beFood chiếm khoảng 4%.
Mặc dù đây là số liệu trên phạm vi toàn quốc, kết quả này phần nào phản ánh sức phát triển của một loại hình dịch vụ đã trở nên phổ biến tại những đô thị lớn như Hà Nội. Với các cơ sở kinh doanh ẩm thực, việc tham gia nền tảng giúp mở rộng tệp khách hàng mà không nhất thiết phải đầu tư thêm mặt bằng hoặc xây dựng đội ngũ giao hàng riêng, nhưng đồng thời làm phát sinh chi phí chiết khấu và sự phụ thuộc vào hệ thống trung gian.

Sự phát triển của kinh tế nền tảng cũng thể hiện rõ trong lĩnh vực lưu trú và du lịch. Thông qua Airbnb, Booking.com và các nền tảng trực tuyến, chủ sở hữu nhà ở, căn hộ và cơ sở lưu trú có thể tiếp cận khách hàng trong nước, quốc tế, trong khi du khách có thêm lựa chọn về mức giá, địa điểm và loại hình dịch vụ.
Hoạt động này được hỗ trợ bởi quy mô du lịch ngày càng lớn của Thủ đô. Theo Sở Tài chính Hà Nội, trong 9 tháng đầu năm 2026, thành phố đón khoảng 27,5 triệu lượt khách, tăng 6,2% so với cùng kỳ, với tổng thu từ khách du lịch đạt 113.200 tỷ đồng, tăng 13,3%.
Các nền tảng trực tuyến vì vậy đang góp phần kết nối nhiều lĩnh vực kinh tế, từ vận tải, lưu trú, ăn uống đến thương mại và logistics. Tuy nhiên, khi giao dịch diễn ra trên môi trường số và có sự tham gia của nhiều chủ thể, việc xác định trách nhiệm và quản lý hoạt động kinh doanh cũng trở nên phức tạp hơn.
Thách thức quản lý và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Một trong những vấn đề lớn nhất của kinh tế nền tảng là sự thay đổi trong mối quan hệ giữa doanh nghiệp cung cấp ứng dụng, người bán và khách hàng. Trong một giao dịch đặt đồ ăn, trách nhiệm có thể liên quan đến nhà hàng, tài xế và đơn vị vận hành nền tảng. Tương tự, đối với dịch vụ lưu trú trực tuyến, nền tảng đặt phòng không nhất thiết là đơn vị trực tiếp cung cấp chỗ ở.
Khi xảy ra tranh chấp về chất lượng sản phẩm, giá dịch vụ, giao hàng, hủy đặt phòng hoặc hoàn tiền, người tiêu dùng có thể gặp khó khăn trong việc xác định bên chịu trách nhiệm. Đặc biệt, sự bất cân xứng thông tin giữa người mua và người bán trên môi trường số có thể khiến khách hàng bất lợi nếu không có cơ chế xác thực, tiếp nhận và xử lý khiếu nại hiệu quả.
Trao đổi với báo chí vào tháng 3/2026, ông Vũ Văn Trung, Phó Chủ tịch Hội Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam, cảnh báo các hành vi vi phạm trong môi trường số ngày càng tinh vi, khó truy vết, trong khi người mua khó kiểm chứng danh tính người bán và chất lượng sản phẩm trước khi giao dịch. Theo ông, việc bảo vệ người tiêu dùng cần được tiếp cận đồng thời từ ba phương diện gồm hoàn thiện thể chế, ứng dụng công nghệ và nâng cao năng lực quản trị.

Bên cạnh quyền lợi khách hàng, các mô hình kinh doanh qua ứng dụng còn đặt ra vấn đề về cạnh tranh và phân chia lợi ích. Đối với nhà hàng, quán ăn hoặc hộ kinh doanh nhỏ, nền tảng giúp mở rộng thị trường nhưng cũng có thể tạo ra sự phụ thuộc vào chính sách phí, chiết khấu, chương trình khuyến mại và cơ chế phân phối đơn hàng.
TS Lương Văn Khôi, khi đó là Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, nhận định kinh tế chia sẻ, là xu hướng phù hợp với sự phát triển của công nghệ và cần được tạo điều kiện phát triển. Tuy nhiên, ông cũng nhấn mạnh yêu cầu đổi mới tư duy quản lý nhà nước, bảo đảm môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp truyền thống và doanh nghiệp hoạt động theo mô hình kinh tế chia sẻ.
Thực tế quản lý thị trường tại Hà Nội cho thấy những thách thức này không chỉ mang tính lý thuyết. Theo Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, trong năm 2025, lực lượng quản lý thị trường Hà Nội đã xử lý hơn 363 vụ việc liên quan đến thương mại điện tử, với tổng số tiền xử phạt trên 6,4 tỷ đồng.
Các hành vi vi phạm bao gồm kinh doanh hàng giả qua livestream, sử dụng tài khoản ảo, che giấu kho hàng và lợi dụng dịch vụ chuyển phát nhanh để phân tán hàng hóa. Những thủ đoạn này khiến việc xác minh nguồn gốc, theo dõi hoạt động kinh doanh và xử lý vi phạm trên môi trường số trở nên khó khăn hơn so với các mô hình truyền thống.
Trước những yêu cầu mới, Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 và Nghị định số 248/2026/NĐ-CP, cùng có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, đã bổ sung cơ sở pháp lý cho việc xác định trách nhiệm của các chủ thể tham gia giao dịch trực tuyến. Các quy định về xác thực thông tin, công khai điều kiện giao dịch, phối hợp xử lý vi phạm và bảo vệ người tiêu dùng tạo điều kiện để cơ quan chức năng tăng cường quản lý hoạt động thuộc phạm vi điều chỉnh.
Tại Hà Nội, chính quyền thành phố cũng đang cụ thể hóa những yêu cầu này thông qua các chương trình quản lý. Ngày 27/1/2026, UBND thành phố ban hành Kế hoạch số 39/KH-UBND về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, trong khi Quyết định số 3732/QĐ-UBND ngày 27/7/2026 phê duyệt Đề án thí điểm mô hình tiêu dùng số và bảo trợ thương mại điện tử.
Theo Đề án, đến năm 2028, Hà Nội phấn đấu có 500 chủ thể tham gia hoặc kết nối mô hình, đồng thời đặt mục tiêu 90% phản ánh, khiếu nại được phân loại và chuyển xử lý đúng hạn. Thành phố cũng định hướng xây dựng mô hình "Gian hàng số Thủ đô", tăng cường công khai thông tin về chủ thể kinh doanh, nguồn gốc sản phẩm và cơ chế giải quyết tranh chấp.