Tin tức thị trường

Doanh nghiệp kỳ vọng ngân hàng giảm lãi suất cho vay xuống dưới 10%

Tinnhanhck
· 8 giờ trước

Lãi vay trên 10%, doanh nghiệp 'kêu' không có lãi

Chia sẻ tại hội nghị 'Ngành Ngân hàng đồng hành khơi thông nguồn lực Tài chính - Ngân hàng phục vụ tăng trưởng vùng Đông Nam Bộ giai đoạn 2026 - 2030', diễn ra chiều ngày 23/10, ông Trần Thành Trọng, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Sáng Ban Mai cho rằng, doanh nghiệp sản xuất thường có biên lợi nhuận thấp, trong khi chu kỳ vốn kéo dài từ 6 tháng trở lên. Vì vậy, nếu lãi suất cho vay trên 10%/năm, chi phí tài chính sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh doanh. Động lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bị suy giảm nghiêm trọng.

Mức lợi nhuận thông thường của doanh nghiệp chỉ đạt khoảng 15%, trường hợp tích cực nhất mới đạt 17%, nhưng nếu chi phí lãi suất trên 10% thì xem như không có lãi. Vì vậy, doanh nghiệp mong muốn lãi suất cho vay được điều chỉnh xuống dưới 10% để doanh nghiệp có "khoảng thở" và duy trì hoạt động.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp có nhu cầu vốn, nhưng thiếu tài sản thế chấp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) tài sản thế chấp rất hạn chế. Vì thế, ngân hàng cần nghiên cứu cơ chế hỗ trợ SME khi họ chưa có tài sản thế chấp ngay nhưng sở hữu hợp đồng kinh doanh khả thi.

Đồng thời, quy trình và thủ tục vay vốn ngân hàng hiện nay vẫn còn quá nhiều hồ sơ giấy nên đại diện doanh nghiệp phản ánh việc phải ký hợp đồng tín dụng và các văn bản bảo đảm "mỏi tay" mà không kịp đọc hết nội dung nên chuyển sang quy trình điện tử hoàn toàn để giảm bớt thời gian ký kết, tập trung vào sản xuất kinh doanh.

Ông Trần Văn Dũng, Tổng giám đốc CTCP Chế biến XNK Thủy sản tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cho hay, từ năm 2017, doanh nghiệp thực hiện chủ trương di dời nhà máy gây ô nhiễm khỏi khu dân cư, đồng thời đã chi 100 tỷ đồng xây dựng 3 nhà máy tại khu vực ven biển Lộc An (xã Đất Đỏ).

Tuy nhiên, dù UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cũ (nay là TP.HCM) đã có quyết định liên quan, 8 năm qua doanh nghiệp vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc này khiến doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc hoàn thiện hồ sơ tài sản và tiếp cận vốn ngân hàng. Có thời điểm, doanh nghiệp chỉ được vay 12 tỷ đồng vốn trung hạn, trong khi quy mô xuất khẩu đạt khoảng 60 triệu USD/năm và tạo việc làm cho 1.000 lao động. Ông Dũng kiến nghị, chính quyền sớm giải quyết thủ tục đất đai để doanh nghiệp có điều kiện khai thác nguồn lực đã đầu tư.

Bên cạnh đó, ông Dũng cho biết thêm, doanh nghiệp còn chi hơn 20 tỷ đồng đầu tư hệ thống điện mặt trời áp mái cho các nhà máy để hướng tới tăng trưởng xanh, song không thể tiếp cận gói giảm 2% lãi suất theo chủ trương. Khoản vay để đầu tư hệ thống này tại ngân hàng vẫn phải chịu lãi suất 11%/năm trong 12 tháng đầu, sau đó cộng thêm biên độ 3%/năm (khoảng 14%/năm).

Thiếu tài sản đảm bảo, khó chứng minh dòng tiền

Ông Đặng Văn Điềm - Chủ tịch Liên đoàn doanh nghiệp Đồng Nai cho rằng, trong bối cảnh hiện nay, doanh nghiệp phải đối mặt với áp lực rất lớn từ rào cản thị trường tiêu thụ và các yêu cầu khắt khe. Dù vậy, ngân hàng vẫn là nguồn lực tài chính quan trọng nhất đối với hoạt động sản xuất kinh doanh.

Theo ông Điềm, qua thực tiễn hoạt động, cộng đồng doanh nghiệp đang gặp một số khó khăn, vướng mắc đáng quan tâm gồm: khó khăn trong tiếp cận vốn vay do tài sản đảm bảo và chứng minh dòng tiền. Đặc biệt là các SME có nhu cầu vay vốn để bổ sung vốn lưu động và mở rộng sản xuất nhưng chưa đáp ứng đầy đủ điều kiện tín dụng, đặc biệt là yêu cầu về tài sản đảm bảo, hồ sơ tài chính và chứng minh dòng tiền. Doanh nghiệp có phương án kinh doanh khả thi nhưng thiếu tài sản thế chấp vẫn gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn.

Tài sản đảm bảo chủ yếu của doanh nghiệp thời gian qua là bất động sản. Tuy nhiên, giá trị bất động sản sụt giảm mạnh đã gây ảnh hưởng lớn đến việc định giá, nới hạn mức tài sản và cho vay của các ngân hàng thương mại. Đây là thực trạng rất cần NHNN xem xét đối với các SME.

'Đáng chú ý, áp lực lãi suất cho vay tăng cao, các khoản phí liên quan và yêu cầu duy trì điều kiện tín dụng làm gia tăng chi phí hoạt động của doanh nghiệp. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cạnh tranh, nhất là đối với các doanh nghiệp có quy mô nhỏ hoặc đơn hàng chưa ổn định', ông Điềm nhấn mạnh.

Ngoài ra, việc chuẩn bị hồ sơ, thẩm định phương án kinh doanh, định giá tài sản đảm bảo và hoàn tất thủ tục giải ngân đôi khi còn kéo dài. Sự chậm trễ này chưa đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn theo tiến độ đơn hàng và chu kỳ sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, ông Điềm cũng khuyến khích các doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị tài chính, minh bạch báo cáo tài chính, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế. Xây dựng phương án kinh doanh khả thi và sử dụng vốn vay đúng mục đích để củng cố uy tín tín dụng và tạo dựng quan hệ lâu dài với ngân hàng.

Cũng tại Hội nghị, ông Lê Như Thạch, Phó chủ tịch Liên đoàn Doanh nghiệp TP.HCM (HUBA) cho biết, vốn đầu tư mỗi năm tương đương với 40% GDP. Vì vậy, thách thức hiện nay không chỉ nằm ở việc huy động đủ vốn mà còn phải đảm bảo chi phí vốn hợp lý cho kỳ hạn phù hợp với đặc điểm của từng dự án.

Thứ hai là hệ thống ngân hàng đang gánh vác quá lớn nhu cầu của nền kinh tế. Theo số liệu tổng hợp, tín dụng ngân hàng hiện chiếm khoảng 83% trong tổng nợ/tài trợ của nền kinh tế, trong khi trái phiếu chỉ chiếm khoảng 13% và vốn cổ phần chiếm khoảng 4%.

Bên cạnh đó, dù lãi suất huy động niêm yết phổ biến ở mức 5 - 6,5%, nhưng thực tế có những trường hợp chào mức lãi suất ra tới 8,5 - 11%. Những diễn biến này cho thấy việc tiếp tục dựa chủ yếu vào tín dụng ngân hàng để tài trợ tăng trưởng ngày càng khó khăn và có thể làm gia tăng rủi ro đối với an toàn hệ thống.

Hiện SME đang chịu thiệt thòi trong phân bổ nguồn vốn, trong khi đó SME chiếm khoảng 98% tổng số doanh nghiệp nhưng chỉ tiếp cận 20% tín dụng của ngân hàng. Lãi suất cho vay phổ biến ở mức 10 - 12%/năm; 93,5% khoản vay đòi hỏi tài sản đảm bảo. Trong khi đó, một số dự án lớn của các tập đoàn được hưởng cơ chế ngoại lệ với mức tăng tín dụng.

'Cần quan tâm đến khả năng tiếp cận vốn của khu vực kinh tế tư nhân. Nếu vốn tập trung quá nhiều vào các dự án lớn mà SME thiếu vốn lưu động, thiếu vốn đầu tư thì tăng trưởng cao trước mắt có thể phải đánh đổi bằng sự suy yếu của năng lực sản xuất nội địa', ông Thạch nói.

Song ông Thạch cũng cho rằng, không thể đặt toàn bộ trách nhiệm tài trợ tăng trưởng lên hệ thống ngân hàng thương mại; cần phát triển mạnh thị trường trái phiếu doanh nghiệp, thị trường vốn cổ phần, các quỹ đầu tư hạ tầng và các nguồn vốn dài hạn khác.

Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn cho biết, công tác điều hành của NHNN phải thực hiện đa mục tiêu, vừa góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đảm bảo sự an toàn hệ thống ngân hàng, vừa hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

NHNN đã chỉ đạo các TCTD quyết liệt triển khai các giải pháp tăng trưởng tín dụng đúng, trúng mục tiêu ngay từ đầu năm, tăng cường rà soát, đơn giản hóa quy trình và thủ tục cấp tín dụng, tối ưu hóa áp dụng chuyển đổi số vào quy trình cấp tín dụng, tạo điều kiện thuận lợi trong tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng, ổn định mặt bằng lãi suất tiền gửi, góp phần ổn định thị trường tiền tệ, góp phần phấn đấu giảm lãi suất cho vay…

Việc điều hành lãi suất và tỷ giá gắn với diễn biến quốc tế. NHNN theo dõi sát tình hình để điều hành lãi suất phù hợp với điều kiện thực tế và bám sát diễn biến quốc tế. Theo Thống đốc, NHNN tập trung chỉ đạo sát sao nhằm giảm thiểu tình trạng cạnh tranh không lành mạnh trong việc huy động nguồn vốn giữa các ngân hàng thương mại. Mặc dù các Ngân hàng Trung ương lớn trên thế giới (như Fed, ECB) liên tục thắt chặt tiền tệ và tăng lãi suất, NHNN vẫn chủ động đánh giá mức độ ổn định vĩ mô, tỷ giá và đảm bảo lãi suất thực dương cho người gửi tiền.

NHNN đã chỉ đạo các TCTD giảm lãi suất cho vay từ 1,5 - 2% tập trung cho các lĩnh vực sản xuất kinh doanh và lĩnh vực ưu tiên, đồng thời chỉ đạo giảm khoảng 0,5% mặt bằng lãi suất tiết kiệm. Việc giảm lãi suất này được thực hiện có trọng tâm, trọng điểm chứ không giảm toàn diện tràn lan, bảo đảm phù hợp với thực tiễn mà không đi ngược lại bối cảnh chung của thế giới.