Ngân hàng

Ngân hàng trước cảnh báo: Lợi nhuận bứt phá nhưng chất lượng tài sản đi xuống

Vietnamfinance
· 14 giờ trước

Chất lượng tài sản tiếp tục suy giảm

Lợi nhuận trước thuế toàn ngành ngân hàng quý III/2026 tăng 21,1% so với cùng kỳ, với 20 ngân hàng ghi nhận kết quả tăng trưởng. Tuy nhiên, báo cáo tài chính của các ngân hàng niêm yết lại cho thấy bức tranh chất lượng tài sản kém tích cực hơn khi tỷ lệ nợ xấu của nhiều ngân hàng đã bắt đầu tăng trở lại và có sự phân hóa rõ nét.

Cụ thể, tại thời điểm cuối quý III/2026, nhóm ngân hàng quốc doanh vẫn duy trì tỷ lệ nợ xấu dưới 2%, bao gồm Vietcombank với 0,71%, VietinBank với 1,2% và BIDV với 1,85%. Một số ngân hàng thương mại tư nhân cũng duy trì tỷ lệ nợ xấu ở mức thấp, như ACB với 1,19%, Bắc Á Bank với 1,19%, Techcombank với 1,27%, VietA Bank với 1,38% và ABBank với 1,42%.

Những ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu dưới 2% gồm có MB với 1,67%, LPBank với 1,87%, KienlongBank với 1,98%. Trong khi đó, nhóm có tỷ lệ nợ xấu 'nhỉnh' hơn tính đến cuối quý III/2026 gồm TPBank với 2,1%, SHB với 2,22%, SeABank và VietBank cùng ở mức 2,28%, Eximbank với 2,62%, MSB với 2,70%, PVcomBank với 2,85% và BaoVietBank với 2,96%.

Tỷ lệ nợ xấu và bao phủ nợ xấu của 28 ngân hàng niêm yết tính đến hết quý III/2026.

Có 8 ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu từ 3% trở lên. Trong nhóm này, Sacombank có tỷ lệ nợ xấu cao nhất với 7,33%, gấp hơn ba lần mức chung của ngành, đồng thời cũng có quy mô nợ xấu lớn nhất trong quý III. NCB đứng thứ hai với 4,87%, tiếp đến là một số ngân hàng khác như PGBank (3,93%), HDBank (3,42%), VIB (3,20%), VPBank (3,12%) và SaigonBank (3,06%).

Cùng kỳ, tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) cũng có sự phân hóa mạnh giữa các ngân hàng. Trong 28 ngân hàng niêm yết trên sàn chứng khoán, chỉ có 4 nhà băng ghi nhận tỷ lệ LLR trên 100%, bao gồm Vietcombank (243,2%), VietinBank (160,4%), Bắc Á Bank (127,3%) và Techcombank (107,1%). Theo sau là ACB với tỷ lệ LLR đạt 90,9% và ABBank với 86,8%.

Nhóm có tỷ lệ LLR dưới 85% gồm có MB (84,7%), SHB (81,7%), Kienlong Bank (80,9%), BIDV (73,4%) và SeABank (71,0%). Nhóm có tỷ lệ LLR từ 50% đến 70%, gồm Nam A Bank (66,9%), LPBank (62,8%), Vietbank (62,4%), TPBank (57,0%), OCB (56,2%), VietABank (54,9%), VPBank (54,0%) và PVcomBank (50,1%).

Toàn hệ thống có 9 ngân hàng ghi nhận tỷ lệ LLR dưới 50%, bao gồm MSB (47,2%), HDBank (46,0%), BaoVietBank (45,1%), VIB (41,8%), Eximbank (41,4%), Sacombank (34,8%), SaigonBank (34,7%), PGBank (30,6%) và NCB (25,5%). Đáng chú ý, trong nhóm này có Sacombank, NCB, PGBank và SaigonBank là các ngân hàng vừa có tỷ lệ nợ xấu cao (từ 3% trở lên) vừa có đệm dự phòng mỏng.

Trong báo cáo mới đây của SSI Research, các chuyên gia phân tích nhận định chất lượng tài sản của các ngân hàng tiếp tục suy giảm trong quý III/2026 với áp lực dịch chuyển sang nhóm ngân hàng TMCP quy mô vừa vừa nhỏ trong khi nhóm ngân hàng TMNN nhìn chung ổn định.

SSI Research nhận định nguyên nhân chính là lãi suất tăng mạnh, làm suy yếu khả năng trả nợ của người vay, đặc biệt là khách hàng cá nhân, hộ gia đinh, SMEs và doanh nghiệp siêu nhỏ. 'Phần lớn các khoản vay mua nhà sẽ được điều chỉnh lên mức lãi suất 12–15%/năm từ quý III/2026 trở đi. Do đó, nợ xấu cho vay mua nhà nhiều khả năng sẽ lộ diện rõ hơn trong các quý tới, gây thêm áp lực lên chi phí dự phòng của các ngân hàng', phía SSI Research nhấn mạnh.

Chất lượng tài sản toàn ngành đang đi xuống.

Đồng quan điểm, SHS Research cũng chỉ ra chất lượng tài sản toàn ngành đang đi xuống với tốc độ hình thành nợ xấu mới đã tăng lên 1,71% tính đến hết quý III/2026. Cùng kỳ, tỷ lệ bao phủ nợ xấu lại giảm xuống còn 74%. Trong bối cảnh này, các chuyên gia SHS Research đề xuất gia hạn cơ cấu và giữ nguyên nhóm nợ đến hết năm 2027.

Theo dõi sát diễn biến các nhóm nợ

Trong một chia sẻ mới đây, ông Nguyễn Tiến Dũng, Trưởng phòng phân tích Công ty Chứng khoán MB (MBS) nhận định, lợi nhuận ngành ngân hàng vẫn ở mức tích cực trong quý III song trong môi trường lãi suất huy động duy trì ở mức cao, con số lợi nhuận hiện tại chưa phản ánh hết bức tranh chất lượng tài sản.

Rủi ro nợ xấu gia tăng tác động trực tiếp lên bài toán chi phí của ngân hàng thông qua hai chỉ báo trọng tâm gồm chi phí tín dụng và mức trích lập dự phòng rủi ro tín dụng. Khi rủi ro nợ xấu tiềm ẩn lớn, việc phải tăng cường trích lập dự phòng trong các kỳ tiếp theo sẽ làm ăn mòn lợi nhuận thực tế. Ngoài ra, sự gia tăng của nợ xấu nội nhóm 2 (nợ cần chú ý) là chỉ số cảnh báo sớm được thị trường đặc biệt theo dõi để đánh giá chất lượng tài sản thực sự của ngân hàng.

Trong bối cảnh đó, kiểm soát nợ xấu tiếp tục là một trong những nhiệm vụ trọng tâm mà Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đề ra trong giai đoạn cuối năm. Trong Công văn số 9608/NHNN-CSTT mới đây, NHNN yêu cầu các tổ chức tín dụng phải theo dõi sát diễn biến các nhóm nợ nhất là nợ nhóm 2 và nợ xấu; tăng cường theo dõi, quản lý các khoản nợ tiềm ẩn rủi ro, nợ ngoại bảng và các khoản nợ đã cơ cấu, cơ cấu lại thời hạn trả nợ; thường xuyên đánh giá khả năng phục hồi của khách hàng, kịp thời cập nhật mức độ rủi ro và có biện pháp kiểm soát phù hợp nhằm kịp thời xử lý, thu hồi các khoản nợ đến hạn, nợ quá hạn, ngăn ngừa nguy cơ chuyển thành nợ xấu.

Con số lợi nhuận hiện tại chưa phản ánh hết bức tranh chất lượng tài sản của ngân hàng.

NHNN cũng đặc biệt lưu ý một số tổ chức tín dụng có quy mô và tốc độ gia tăng nợ xấu ở mức cao cần theo dõi, quản lý chặt chẽ các khoản cấp tín dụng, chủ động rà soát, đánh giá nguyên nhân nợ xấu tăng cao để có các giải pháp xử lý kịp thời nhằm kiểm soát rủi ro, bảo đảm an toàn hoạt động của tổ chức tín dụng.

Đồng thời, nhà điều hành cũng yêu cầu rà soát và tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật cũng như quy định nội bộ liên quan đến công tác phân loại nợ, trích lập dự phòng, phản ánh trung thực chất lượng tín dụng, không để xảy ra tình trạng che giấu nợ xấu hoặc chậm ghi nhận rủi ro, bảo đảm việc trích lập dự phòng rủi ro đầy đủ, kịp thời theo quy định; xây dựng kế hoạch tăng cường năng lực tài chính, nâng cao tỷ lệ bao phủ nợ xấu nhằm củng cố khả năng chống chịu trước các biến động bất lợi của môi trường kinh doanh.

Về công tác thu hồi nợ xấu, NHNN yêu cầu đẩy mạnh công tác thu hồi, xử lý nợ xấu, đa dạng hóa các biện pháp xử lý thay vì phụ thuộc chủ yếu vào sử dụng dự phòng rủi ro.

Một điểm tích cực là Nghị định 359/2026/NĐ-CP củng cố vai trò của Công ty Quản lý tài sản Việt Nam (VAMC) chính thức có hiệu lực từ 6/11/2026. Với tư cách là nền tảng xử lý nợ xấu ở cấp hệ thống, thông qua việc mở rộng cơ chế mua nợ và tăng tính linh hoạt trong tái cơ cấu nợ, thu hồi/xử lý tài sản bảo đảm, chuyển nợ thành vốn góp và quản lý tài sản, VAMC được kỳ vọng sẽ giúp củng cố năng lực xử lý nợ xấu và thu hồi tài sản bảo đảm của các ngân hàng.