Ngân hàng

Ngân hàng xoay vốn cho 35 dự án cần vay 1,7 triệu tỷ đồng giữa áp lực lệch pha kỳ hạn

Vneconomy
· 8 giờ trước

Nhu cầu vốn khoảng 1,7 triệu tỷ đồng cho 35 dự án trọng điểm đặt hệ thống ngân hàng trước sức ép lớn khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động và phần lớn nguồn vốn có kỳ hạn ngắn. Vì vậy, vấn đề không chỉ là 'có đủ tiền hay không', mà còn là nguồn vốn nào phù hợp, kỳ hạn bao lâu và rủi ro được phân bổ ra sao...

Nhu cầu vốn dài hạn cho các dự án trọng điểm gia tăng trong khi nguồn vốn của hệ thống ngân hàng chủ yếu có kỳ hạn ngắn (Ảnh: VGP/LS).
Nhu cầu vốn dài hạn cho các dự án trọng điểm gia tăng trong khi nguồn vốn của hệ thống ngân hàng chủ yếu có kỳ hạn ngắn (Ảnh: VGP/LS).

Như VnEconomy đã thông tin, trong hai tháng 6 - 7/2026, Vingroup, Sun Group, Masterise và THACO đã kiến nghị cơ chế tín dụng cho 35 dự án trọng điểm quốc gia có tính lan toả, với tổng nhu cầu vốn vay khoảng 1,707 triệu tỷ đồng. Đây là nhu cầu vốn được đề xuất, không phải số tiền các ngân hàng đã cam kết cho vay hay đã giải ngân.

Nhu cầu vốn rất lớn cho các dự án hạ tầng phát sinh trong bối cảnh huy động vốn tăng chậm hơn tín dụng kể từ năm 2021 đến nay; nguồn vốn ngân hàng chủ yếu là ngắn hạn trong khi tín dụng trung, dài hạn có xu hướng tăng, làm gia tăng rủi ro mất cân đối kỳ hạn và áp lực thanh khoản. Vậy hệ thống ngân hàng sẽ xoay xở nguồn vốn cho các dự án này thế nào và đâu là giới hạn không nên vượt qua?

Thanh khoản hệ thống ngân hàng chịu nhiều áp lực do tăng trưởng huy động thấp hơn tín dụng trong thời gian dài.
Thanh khoản hệ thống ngân hàng chịu nhiều áp lực do tăng trưởng huy động thấp hơn tín dụng trong thời gian dài.

Trao đổi với VnEconomy, PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, Giảng viên cao cấp - Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh (UEH) gợi ý ngân hàng chỉ nên là một mắt xích trong cấu trúc huy động vốn, tập trung vào vốn cầu nối, vốn xây dựng giai đoạn đầu và tài trợ hợp vốn; phần vốn dài hạn cần được huy động từ thị trường trái phiếu, các nhà đầu tư tổ chức và nguồn vốn quốc tế. Sau giai đoạn xây dựng, các khoản vay ngân hàng cũng cần được tái tài trợ bằng công cụ vốn dài hạn, qua đó giải phóng bảng cân đối và tạo dư địa tín dụng cho những dự án tiếp theo.

Với nhu cầu vốn vay được đề xuất lên tới khoảng 1,7 triệu tỷ đồng, theo ông, hệ thống ngân hàng có thể tham gia tài trợ đến đâu mà không làm gia tăng mất cân đối kỳ hạn và rủi ro thanh khoản?

Theo tôi, trước hết cần nhìn nhận rằng 1,7 triệu tỷ đồng không thể và cũng không nên được hiểu là một 'hóa đơn' mà hệ thống ngân hàng phải tài trợ phần lớn. Ngân hàng có vai trò rất quan trọng, nhưng chức năng cốt lõi vẫn là trung gian tín dụng dựa trên nguồn tiền gửi, trong khi các dự án hạ tầng và dự án trọng điểm thường có vòng đời 10-30 năm. Nếu sử dụng quá nhiều vốn huy động ngắn hạn để cho vay dài hạn, rủi ro kỳ hạn và thanh khoản sẽ tích tụ trong bảng cân đối ngân hàng.

Nguồn vốn vì vậy phải được cấu trúc theo hướng đa tầng. Ngân hàng nên tập trung vào vốn cầu nối, vốn xây dựng trong giai đoạn đầu, tài trợ hợp vốn và các khoản tín dụng có dòng tiền trả nợ tương đối rõ. Phần vốn dài hạn cần được huy động nhiều hơn từ trái phiếu doanh nghiệp và trái phiếu dự án, quỹ đầu tư hạ tầng, bảo hiểm, quỹ hưu trí, nhà đầu tư tổ chức, PPP và nguồn vốn quốc tế. Với các dự án có khả năng tạo dòng tiền ổn định, cần đẩy mạnh mô hình tài trợ dự án (project finance), trong đó khả năng trả nợ dựa chủ yếu vào dòng tiền của chính dự án thay vì dựa quá nhiều vào bảng cân đối của doanh nghiệp mẹ.

Ngân hàng cũng có thể tăng nguồn vốn trung, dài hạn thông qua phát hành trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi dài hạn, vay hợp vốn quốc tế và huy động từ các định chế tài chính phát triển. Tuy nhiên, đây chỉ là một phần của lời giải. Quan trọng hơn là phát triển thị trường vốn để sau giai đoạn xây dựng, một phần khoản vay ngân hàng có thể được tái tài trợ bằng trái phiếu hoặc các công cụ vốn dài hạn, qua đó 'giải phóng' bảng cân đối ngân hàng cho các dự án tiếp theo.

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, Phó Chủ tịch cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TP. HCM (VIFC-HCMC).
PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, Phó Chủ tịch cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TP. HCM (VIFC-HCMC).

"Giới hạn thực sự của hệ thống không chỉ nằm ở quy mô tín dụng, mà nằm ở ba điểm: khả năng huy động vốn ổn định; mức độ chênh lệch kỳ hạn giữa tài sản và nguồn vốn; và sức chịu đựng vốn tự có khi rủi ro tín dụng gia tăng. Nếu tín dụng tiếp tục tăng nhanh hơn huy động trong thời gian dài, cạnh tranh huy động sẽ đẩy lãi suất lên, biên thanh khoản thu hẹp và cuối cùng chi phí vốn của cả nền kinh tế tăng theo. Vì vậy, cần coi ngân hàng là một mắt xích trong cấu trúc huy động vốn, chứ không phải nguồn vốn duy nhất".

Nếu nguồn lực trong nước không đủ, ngân hàng và doanh nghiệp có thể vay hoặc phát hành trái phiếu quốc tế. Nhưng trong bối cảnh lãi suất quốc tế còn cao và xếp hạng tín nhiệm quốc gia chưa đạt mức ĐẦU TƯ thì bài toán chi phí vốn phải giải quyết thế nào, thưa ông?

Vốn quốc tế là cần thiết, nhưng không nên tiếp cận theo cách 'thiếu vốn trong nước thì vay nước ngoài bằng mọi giá'. Chi phí vốn quốc tế của doanh nghiệp Việt Nam thường gồm lãi suất tham chiếu, phần bù rủi ro quốc gia, phần bù rủi ro của doanh nghiệp, chi phí phát hành và đặc biệt là chi phí phòng ngừa rủi ro tỷ giá. Vì vậy, mức lãi suất nhìn thấy trên trái phiếu chưa phản ánh đầy đủ chi phí vốn thực tế.

Để giảm chi phí, theo tôi cần đi theo 4 hướng. Thứ nhất, nâng chất lượng tín nhiệm của từng dự án và doanh nghiệp thay vì chỉ phụ thuộc vào xếp hạng quốc gia: minh bạch tài chính, quản trị theo chuẩn quốc tế, dòng tiền dự án rõ ràng, tài sản bảo đảm và cơ chế kiểm soát tài khoản doanh thu. Một dự án tốt có thể tạo ra mức chênh lệch tín dụng thấp hơn đáng kể so với một doanh nghiệp vay dựa trên uy tín chung.

Thứ hai, tận dụng các cấu trúc tăng cường tín dụng như bảo lãnh một phần, bảo hiểm rủi ro, vốn ưu đãi hoặc vốn 'mồi' từ các định chế tài chính phát triển, đặc biệt đối với hạ tầng xanh, giao thông công cộng, năng lượng và các dự án đáp ứng tiêu chuẩn ESG. Cấu trúc blended finance có thể giúp giảm phần rủi ro mà nhà đầu tư thương mại phải gánh và từ đó hạ chi phí vốn.

Thứ ba, lựa chọn đúng đồng tiền và nguồn thu. Nếu dự án có doanh thu ngoại tệ hoặc có cơ chế phòng ngừa tự nhiên thì vay ngoại tệ có thể hợp lý hơn. Ngược lại, dự án thuần túy tạo doanh thu bằng VND mà vay dài hạn bằng USD nhưng không phòng ngừa tỷ giá đầy đủ có thể biến khoản vay lãi suất tưởng như thấp thành một khoản vốn rất đắt khi tỷ giá biến động.

Thứ tư, cần tạo quy mô phát hành đủ lớn, chuẩn hóa hồ sơ, xây dựng đường cong lợi suất và lịch sử tín nhiệm của các tổ chức phát hành Việt Nam trên thị trường quốc tế. Khi nhà đầu tư hiểu rõ hơn về Việt Nam và thanh khoản của trái phiếu tốt hơn, phần bù rủi ro có thể giảm dần. Về dài hạn, cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia lên mức đầu tư sẽ tạo tác động lan tỏa rất lớn, bởi nó có thể mở cửa cho nhiều quỹ đầu tư quốc tế vốn bị giới hạn chỉ được nắm giữ tài sản investment grade.

Do đó, mục tiêu không phải là tìm nguồn vốn quốc tế rẻ nhất tại một thời điểm, mà là thiết kế cấu trúc vốn có 'chi phí vốn toàn phần' hợp lý nhất trong suốt vòng đời dự án.

Theo ông, 'lằn ranh đỏ' nào mà nhà điều hành không nên vượt qua, kể cả khi mục tiêu tăng trưởng đang đòi hỏi một lượng tín dụng rất lớn?

Theo tôi, lằn ranh đỏ quan trọng nhất là không được đánh đổi an toàn hệ thống tài chính lấy tăng trưởng ngắn hạn. Tăng trưởng tín dụng cao chỉ có ý nghĩa khi vốn đi vào các dự án có hiệu quả, tạo năng lực sản xuất mới và hình thành dòng tiền đủ để trả nợ. Nếu tín dụng được mở rộng chủ yếu vì mục tiêu số lượng, trong khi tiêu chuẩn thẩm định bị hạ thấp, rủi ro sẽ xuất hiện sau một độ trễ dưới dạng nợ xấu, áp lực thanh khoản và suy giảm chất lượng tài sản.

Có một số nguyên tắc không nên phá vỡ: không để tín dụng tăng quá xa so với khả năng huy động vốn ổn định; không nới lỏng các chuẩn an toàn vốn và quản trị thanh khoản chỉ để tạo thêm dư địa cho vay; không để mức độ tập trung tín dụng vào một số tập đoàn, lĩnh vực hoặc dự án vượt quá khả năng hấp thụ rủi ro của ngân hàng; và đặc biệt không biến các dự án thương mại thành nghĩa vụ bảo lãnh ngầm của Nhà nước.

Một 'lằn ranh đỏ' khác là rủi ro ngoại tệ. Nếu huy động một lượng vốn quốc tế lớn cho các dự án có doanh thu VND, việc không kiểm soát trạng thái ngoại tệ và chi phí phòng hộ (hedging) có thể chuyển rủi ro từ doanh nghiệp sang ngân hàng và cuối cùng sang hệ thống tài chính.

Vì vậy, thay vì đặt câu hỏi hệ thống ngân hàng có thể tăng thêm bao nhiêu tín dụng, nên đặt câu hỏi mỗi đồng vốn bổ sung tạo ra bao nhiêu giá trị gia tăng và dòng tiền tương lai. Với 35 dự án trọng điểm, cần phân loại dự án theo khả năng tạo dòng tiền, mức độ sẵn sàng pháp lý và hiệu quả kinh tế; ưu tiên vốn cho các dự án có khả năng triển khai ngay, đồng thời huy động thị trường vốn và vốn quốc tế cho phần nhu cầu dài hạn. Cách tiếp cận này vừa hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng, vừa tránh đặt toàn bộ áp lực lên bảng cân đối của hệ thống ngân hàng.