Theo đó, để tiếp tục góp phần tích cực thực hiện mục tiêu giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (TCTD), NHNN yêu cầu các TCTD tập trung nghiêm túc triển khai các hoạt động kinh doanh để cụ thể hóa các giải pháp, chính sách của Đảng và Nhà nước đi vào thực tiễn trong thời gian tới. Cụ thể, các TCTD tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả một số nhiệm vụ, giải pháp nhằm đảm bảo an toàn hệ thống và góp phần ổn định thị trường tiền tệ:
Một là, nghiêm túc thực hiện Chỉ thị số 01/CT-NHNN ngày 09/01/2026 của Thống đốc NHNN về tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm ngành ngân hàng trong năm 2026 nhằm góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, an toàn hệ thống các TCTD, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững và kiểm soát lạm phát theo mục tiêu đặt ra.
Hai là, thực hiện nghiêm các quy định, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và NHNN về lãi suất; tập trung mọi nguồn lực, tiết giảm chi phí, chia sẻ lợi nhuận và triển khai các giải pháp đồng bộ, quyết liệt để giảm mặt bằng lãi suất. Trước mắt, điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi niêm yết tối thiểu 0,5%/năm đối với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, tuyệt đối không đua tăng lãi suất huy động, cạnh tranh không lành mạnh, gây bất ổn đến an ninh tài chính - tiền tệ; giảm lãi suất cho vay khách hàng, trong đó tập trung giảm từ 1,5-2%/năm đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và lĩnh vực ưu tiên.
Ba là, thực hiện các giải pháp để tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, hướng nguồn vốn tín dụng vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và động lực tăng trưởng kinh tế; cấp tín dụng liên quan đến triển khai các công trình, dự án trọng điểm, khả thi phục vụ phát triển kinh tế - xã hội…; tăng cường hợp vốn để cấp tín dụng đối với các dự án lớn; tuyệt đối không hạ chuẩn điều kiện cấp tín dụng, không đánh đổi chất lượng tín dụng để tăng quy mô tín dụng.
Đảm bảo phát triển hài hòa, cân đối giữa huy động vốn với tín dụng. Thường xuyên rà soát cơ cấu nguồn vốn theo loại tiền, kỳ hạn, đa dạng hóa kênh huy động; kiểm soát rủi ro thanh khoản và mất cân đối kỳ hạn thông qua việc kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn; đồng thời, tăng cường tỷ trọng nguồn vốn trung, dài hạn để bảo đảm cân đối bền vững giữa nguồn vốn và sử dụng vốn.
Bốn là, thường xuyên rà soát, tổ chức kiểm tra, kiểm toán các quy định nội bộ và sản phẩm tín dụng, nâng cao chất lượng thẩm định, xác minh thực chất nhu cầu vốn của khách hàng; kịp thời phát hiện, xử lý trường hợp khách hàng cung cấp thông tin không trung thực hoặc sử dụng vốn vay không đúng mục đích.
Năm là, kiểm soát chặt chẽ hoạt động cấp tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, các khách hàng, nhóm khách hàng có dư nợ lớn. Trong đó, chú trọng theo dõi, đánh giá mức độ rủi ro tập trung tín dụng lớn tại các nhóm khách hàng và người có liên quan, cơ cấu tín dụng theo khách hàng, các dự án có quy mô lớn…
Kiểm soát chặt chẽ việc cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân với các nhu cầu vốn. Nghiêm cấm việc tạo lập hồ sơ cấp tín dụng với các nhu cầu vốn nêu trên nhằm rút vốn vay tại TCTD để sử dụng sai mục đích, lách quy định về cho vay một khách hàng…
Sáu là, hoạt động mua hẳn miễn truy đòi bộ chứng từ theo thư tín dụng do chính TCTD phát hành (sau đây gọi tắt là mua hẳn miễn truy đòi bộ chứng từ) phải được kiểm soát rủi ro tương tự hoạt động cấp tín dụng khác; thực hiện đánh giá đầy đủ bản chất giao dịch, đối tác, nguồn thanh toán, dòng tiền và các yếu tố liên quan để nhận diện, đánh giá và kiểm soát rủi ro. TCTD kiểm soát tăng trưởng tín dụng không vượt quá mức dư nợ tín dụng tối đa năm 2026 đã được NHNN thông báo trừ đi số dư của các khoản mua hẳn miễn truy đòi bộ chứng từ phát sinh trong năm 2026.
Bảy là, tăng cường kiểm soát chất lượng thẩm định, phê duyệt tín dụng và quản lý TSBĐ, đặc biệt kiểm soát việc thẩm định, đánh giá lại làm tăng giá trị TSBĐ trong giai đoạn hiện nay, rà soát bảo đảm tuân thủ đầy đủ quy định pháp luật và quy định nội bộ về nhận, định giá, quản lý và xử lý TSBĐ. Thực hiện định giá TSBĐ sát với giá trị thị trường, thường xuyên cập nhật, đánh giá lại giá trị TSBĐ; xác định tỷ lệ cấp tín dụng trên giá trị TSBĐ phù hợp với mức độ rủi ro và đặc điểm, khả năng thanh khoản của từng loại TSBĐ…
Tám là theo dõi sát diễn biến các nhóm nợ nhất là nợ nhóm 2 và nợ xấu; tăng cường theo dõi, quản lý các khoản nợ tiềm ẩn rủi ro, nợ ngoại bảng và các khoản nợ đã cơ cấu, cơ cấu lại thời hạn trả nợ… Rà soát và tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật cũng như quy định nội bộ liên quan đến công tác phân loại nợ, trích lập dự phòng, phản ánh trung thực chất lượng tín dụng, không để xảy ra tình trạng che giấu nợ xấu hoặc chậm ghi nhận rủi ro, bảo đảm việc trích lập dự phòng rủi ro đầy đủ…
Chín là, kiểm soát chặt chẽ các khoản lãi dự thu, nhất là các khoản có giá trị lớn, kéo dài hoặc tiềm ẩn khó thu hồi; thực hiện ghi nhận, hoạch toán lãi dự thu, thoái các khoản lãi dự thu đúng quy định pháp luật và chỉ đạo của NHNN. Đồng thời, yêu cầu thực hiện kiểm soát việc chia cổ tức, phân chia lợi nhuận bảo đảm kết quả kinh doanh phản ánh thực chất tình hình hoạt động của TCTD. Kiểm soát hợp lý chi phí lãi phải trả, phù hợp với khả năng tạo thu nhập từ tín dụng; đồng thời đẩy mạnh đa dạng hóa cơ cấu nguồn thu, phát triển các hoạt động dịch vụ và phi tín dụng, giảm dần mức độ phụ thuộc vào thu nhập lãi thuần.
Mười là, nâng cao năng lực quản lý, điều hành, quản trị rủi ro, kiểm soát, kiểm toán nội bộ, ý thức chấp hành nghiêm quy định của pháp luật, kỷ cương, kỷ luật, đạo đức nghề nghiệp trong hoạt động ngân hàng; tuân thủ các quy định về giới hạn và tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động; tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, kiểm toán nội bộ đối với các hoạt động nghiệp vụ, trong đó đặc biệt lưu ý đối với hoạt động cấp tín dụng, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng; đồng thời kiểm soát chặt chẽ các giao dịch với các cổ đông, người có liên quan của cổ đông.
Mười một, chỉ đạo, ban hành tiêu chí xác định người có liên quan của khách hàng phù hợp với quy định của pháp luật, trong đó có tiêu chí xác định 'pháp nhân, cá nhân khác có mối quan hệ tiềm ẩn rủi ro' theo điểm g khoản 24 Điều 4 Luật Các TCTD. Trên cơ sở các tiêu chí xác định theo quy định nội bộ của TCTD về pháp nhân, cá nhân có mối quan hệ tiềm ẩn rủi ro cho hoạt động, TCTD chủ động rà soát lại toàn bộ danh mục khách hàng có dư nợ lớn, nhóm pháp nhân, cá nhân có mối quan hệ tiềm ẩn rủi ro cho hoạt động, có biện pháp phòng ngừa, xử lý rủi ro.
Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên TCTD, Tổng Giám đốc (Giám đốc) chi nhánh ngân hàng nước ngoài cần quán triệt đến các cổ đông của TCTD, đến các cấp quản lý, điều hành và cán bộ, nhân viên liên quan trong toàn hệ thống TCTD mình để tự kiểm tra, đối chiếu, nhận diện và chủ động cơ cấu, điều chỉnh, xây dựng lộ trình khắc phục phù hợp quy định và chỉ đạo của cấp có thẩm quyền. Trong quá trình triển khai, nếu có vướng mắc hoặc cần có sự hỗ trợ của NHNN thì báo cáo, đề xuất, kiến nghị cụ thể.
NHNN nhấn mạnh, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Tổng Giám đốc (Giám đốc), Trưởng Ban Kiểm soát và các bộ phận kiểm tra, kiểm toán, kiểm soát, giám sát, tuân thủ của các TCTD chịu trách nhiệm về việc thực hiện các chỉ đạo của NHNN tại công văn, đồng thời chịu trách nhiệm về an toàn, hiệu quả hoạt động của các TCTD.
Dặc biệt, từ nay đến cuối năm 2026, đối với các TCTD không tuân thủ và không thực hiện nghiêm chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và NHNN về lãi suất, hoặc có hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây bất ổn thị trường, rủi ro trong hoạt động ngân hàng, ngoài việc xử lý theo quy định của pháp luật, NHNN căn cứ tính chất, mức độ rủi ro xem xét áp dụng các biện pháp: thứ nhất, xem xét lại chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng trong thời gian còn lại của năm 2026 và giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng thấp năm 2027; thứ hai, yêu cầu thực hiện một hoặc một số tỷ lệ bảo đảm an toàn cao hơn mức quy định.
