Vĩ mô Việt Nam

Tỷ lệ tín dụng/GDP tới 150%: Đa dạng hóa nguồn vốn, giảm áp lực lên ngân hàng

Vietnamfinance
· 10 giờ trước

Ngân hàng tích cực huy động vốn

Theo SSI Research, trong giai đoạn từ quý IV/2026 – 2027, 8 ngân hàng có kế hoạch phát hành cổ phiếu với tổng giá trị khoảng 144 nghìn tỷ đồng (khoảng 5,4 tỷ USD), trong đó NCB, Vietcombank và BIDV chiếm gần 2/3 tổng giá trị.

Tuy nhiên, mức độ pha loãng có sự khác biệt lớn. Phần lớn các ngân hàng lớn phát hành dưới 15% số lượng cổ phiếu trước phát hành, trong khi các ngân hàng nhỏ hơn như NCB (113%), PVcomBank (33%) và MSB (25%) theo đuổi kế hoạch tăng vốn mạnh mẽ hơn nhiều nhằm củng cố bộ đệm vốn.

Nhận định về xu hướng này, các chuyên gia phân tích của SSI Research cho biết, trong bối cảnh thị trường vốn vẫn cần nhiều năm nữa mới có thể hấp thụ rủi ro kỳ hạn cấp vốn sang các nhà đầu tư dài hạn, ngân hàng vẫn là kênh tài trợ vốn chủ đạo. Áp lực lên bảng cân đối kế toán theo đó đã khiến ngày càng nhiều ngân hàng phải huy động thêm vốn chủ sở hữu và vốn nợ để duy trì tăng trưởng tín dụng.

Với kế hoạch phát hành cổ phiếu của 8 ngân hàng trên, SSI Research ước tính nguồn vốn mới sẽ giúp vốn chủ sở hữu của các ngân hàng niêm yết tăng khoảng 6,9%, cùng với sự hỗ trợ thêm từ lợi nhuận giữ lại năm 2027.

Tuy nhiên, theo SSI Research, quy mô này vẫn khiêm tốn so với nhu cầu phía trước. 'Để đáp ứng kế hoạch đầu tư giai đoạn 2026- 2030, tổng vốn đầu tư cần tăng trưởng cao hơn đáng kể so với xu hướng gần đây, trong đó khu vực nhà nước chỉ đáp ứng khoảng 1/5, còn phần lớn mức tăng thêm sẽ thuộc về khu vực tư nhân – phần lớn nguồn vốn vẫn phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng', phía SSI Research nhận định.

Bên cạnh đó, để đáp ứng được nhu cầu vốn tín dụng, các ngân hàng cũng đẩy mạnh các hoạt động khác như vay vốn nước ngoài và tăng tốc hút tiền gửi.

Cụ thể, trong năm 2027, tiền gửi vẫn là một trong những trụ cột định hình bức tranh nguồn vốn ngân hàng. Với lãi suất tăng kể từ quý IV/2025, tiền gửi có kỳ hạn vẫn là kênh hấp dẫn nhất xét trên cơ sở điều chỉnh rủi ro, đặc biệt khi các kênh thay thế đang kém hấp dẫn hơn, chẳng hạn như vàng biến động mạnh, bất động sản chững lại và tiền số chưa có khung pháp lý chi tiết.

Hoạt động phát hành chứng chỉ tiền gửi và trái phiếu dự kiến sẽ tăng tốc trong năm 2027, như một công cụ bổ sung nhằm thu hẹp chênh lệch tín dụng – huy động.

Các ngân hàng cũng được cho là sẽ đẩy mạnh vay vốn nước ngoài bao gồm các khoản vay hợp vốn, hạn mức tín dụng quốc tế và các khoản tài trợ xanh, giúp đa dạng hóa nguồn vốn và kéo dài kỳ hạn. Song, theo SSI Research, làn sóng này dự kiến sẽ tăng chậm trong giai đoạn đầu. Chi phí vốn USD cao làm thu hẹp lợi thế sau khi tính đến cả chi phí phòng ngừa rủi ro tỷ giá, đồng thời rủi ro lạm phát do giá năng lượng có thể hạn chế khả năng Fed giảm lãi suất. Do đó, cho đến khi xu hướng lãi suất USD rõ ràng hơn, kênh này vẫn chỉ đóng vai trò bổ trợ cho thanh khoản trong nước.

Giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng

Tuy nhiên, theo SSI Research, những kênh nêu trên chỉ giúp giảm áp lực trong ngắn hạn. Thay vào đó, giải pháp bền vững là chuyển rủi ro kỳ hạn dài ra khỏi bảng cân đối ngân hàng.

tỷ lệ tín dụng/GDP đã ở mức 140-150%Đi sâu vào phân tích, tỷ lệ tín dụng/GDP đã ở mức 140-150%, và các tài sản hạ tầng kỳ hạn dài không phù hợp với nguồn tiền gửi ngắn hạn. Trong giai đoạn 2026-2030, theo ước tính, riêng danh mục siêu dự án đã công bố sẽ hấp thụ tối thiểu 30% lượng tín dụng tăng ròng và nhiều khả năng còn cao hơn khi tính thêm chuỗi cung ứng liên quan và các dự án chưa được công bố, tập trung vào các dự án đường sắt, metro và hạ tầng đô thị có kỳ hạn.

SSI Research chỉ ra, có hai hướng có thể giúp giảm áp lực này. Ở khu vực công, Nhà nước có thể tài trợ trực tiếp hơn cho hạ tầng, thông qua các khoản vay ưu đãi có bảo lãnh của Chính phủ (dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng là mô hình điển hình hiện nay) và thông qua trái phiếu dự án, trái phiếu PPP và trái phiếu chính quyền địa phương có thể tài trợ cho giai đoạn thi công ngay từ đầu, do uy tín của Nhà nước cho phép nhà đầu tư chấp nhận rủi ro hoàn công mà các tổ chức phát hành tư nhân không thể đáp ứng.

Ở khu vực tư nhân, vai trò của ngân hàng là không thể thay thế trong giai đoạn thi công – khi rủi ro ở mức cao nhất và dự án chưa tạo ra dòng tiền. Chỉ khi dự án hoàn thành và rủi ro đã giảm, khoản vay mới có thể được tái cấp vốn thông qua việc chủ đầu tư phát hành trái phiếu dài hạn hoặc vay vốn nước ngoài, và được hoàn trả từ doanh thu vận hành trong tương lai của dự án.

'Dù theo hướng nào, ràng buộc chính vẫn nằm ở phía nhà đầu tư: nhóm nắm giữ phù hợp nhất là doanh nghiệp bảo hiểm và quỹ hưu trí, với các nghĩa vụ nợ dài hạn cho phép họ chờ đợi dòng tiền mà ngân hàng không thể. Tuy nhiên, việc thu hút nhóm nhà đầu tư này phụ thuộc vào việc giải quyết các vấn đề về quản trị, minh bạch cũng như rủi ro thay đổi chính sách và chấm dứt hợp đồng – những yếu tố vẫn khiến họ e ngại', phía SSI Research chỉ ra.

Trước đó, trong một trao đổi với VietnamFinance, TS Trần Huy Tùng, Trưởng Bộ môn Kinh tế Đầu tư thuộc Khoa Kinh tế, Học viện Ngân hàng cũng chỉ ra cơ cấu vốn lý tưởng cho hạ tầng và tái thiết đô thị quy mô lớn.

Về nguyên tắc, ông Tùng cho rằng nên đa dạng hóa theo hướng: trái phiếu dự án và trái phiếu doanh nghiệp hạ tầng có xếp hạng tín nhiệm, để thu hút dòng vốn dài hạn từ các quỹ bảo hiểm, quỹ hưu trí, quỹ đầu tư; các mô hình hợp tác công tư (PPP) được thiết kế lại với cơ chế chia sẻ rủi ro rõ ràng hơn giữa Nhà nước và tư nhân; sự tham gia của các định chế tài chính phát triển và tổ chức tài chính quốc tế cho những cấu phần dài hạn nhất; và về dài hạn hơn nữa là sự hình thành các quỹ đầu tư hạ tầng chuyên biệt.

Vốn ngân hàng vẫn có vai trò, nhưng nên đóng vai trò vốn "bắc cầu" trong giai đoạn xây dựng, để sau đó được thay thế dần bằng vốn dài hạn từ thị trường vốn khi dự án đã đi vào vận hành và có dòng tiền ổn định, ông Tùng nói.