Vĩ mô Việt Nam

Tái định hình mô hình tăng trưởng: Từ 'nhiều hơn' sang 'tốt hơn'

Vneconomy
· 11 giờ trước

Khi các động lực tăng trưởng truyền thống dần chạm giới hạn, Việt Nam cần chuyển trọng tâm sang nâng cao năng suất, trong đó TFP phải trở thành động lực then chốt để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng trên 10%/năm...

Diễn đàn Năng suất chất lượng Quốc gia 2026
Diễn đàn Năng suất chất lượng Quốc gia 2026

Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển với yêu cầu cao hơn. Mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10%/năm trở lên trong giai đoạn 2026–2030 không chỉ đặt ra câu hỏi về tốc độ tăng trưởng, mà quan trọng hơn là nền kinh tế sẽ tạo ra tốc độ tăng trưởng đó bằng cách nào.

Theo ước tính của Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, để đạt tăng trưởng trên 10%/năm, TFP cần tăng khoảng 5,5%/năm, trong khi giai đoạn 2021–2025 mới đạt khoảng 2,92%/năm. Khoảng cách này cho thấy vấn đề không đơn thuần là huy động thêm nguồn lực.

Tại Diễn đàn Năng suất chất lượng Quốc gia do Bộ Khoa học và Công nghệ; Ban Chính sách, chiến lược Trung ương; Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia cùng Tổ chức Năng suất Châu Á và Tổ chức Lao động Quốc tế phối hợp tổ chức, TS. Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, cho biết trong nhiều năm, chúng ta đã dựa khá nhiều vào mở rộng vốn, lao động, tài nguyên, FDI và xuất khẩu, nhưng dư địa mở rộng theo cách cũ đang thu hẹp.

"Câu hỏi quan trọng là: với cùng một lượng vốn, lao động và tài nguyên, chúng ta có thể tạo ra nhiều giá trị hơn hay không?," ông Hiển nói. "Đó chính là bài toán năng suất – và cũng là điểm xuất phát của câu chuyện tái định hình mô hình tăng trưởng."

ĐỘNG LỰC TRUYỀN THỐNG CHẠM GIỚI HẠN, TĂNG TRƯỞNG PHẢI CHUYỂN TỪ "NHIỀU HƠN" SANG "TỐT HƠN"

Theo TS. Nguyễn Đức Hiển, mô hình tăng trưởng trước đây đã đóng góp rất lớn cho quá trình phát triển của Việt Nam. Nhưng khi nhìn về giai đoạn tới, cả bốn động lực chính đều xuất hiện những giới hạn.

Thứ nhất là vốn. Theo phân tích, ICOR giai đoạn 2021–2025 vẫn ở mức khoảng 6,4. Nếu hiệu quả đầu tư không cải thiện, với ICOR khoảng 5,5-6, nhu cầu vốn có thể tăng thêm 1,14-1,25 lần, lên khoảng 43,8-48,1 triệu tỷ đồng; hoặc tăng trưởng có thể thấp hơn mục tiêu 10% khoảng 1,2-2,0 điểm phần trăm.

"Vì vậy, vấn đề không chỉ là huy động thêm vốn mà lànâng hiệu quả và chất lượng phân bổ vốn," ông Hiển nhấn mạnh. "Trọng tâm cần chuyển từ tích lũy vốn đơn thuần sang tích lũy năng lực – tức là vốn phải giúp nâng cấp công nghệ, hạ tầng, kỹ năng và năng lực doanh nghiệp."

Thứ hai  lao động, lợi thế 'nhiều lao động, chi phí thấp' cũng đang dần suy giảm khi thời kỳ dân số vàng bước vào giai đoạn cuối và chi phí lao động tăng lên. Trong khi đó, khoảng cách về năng suất lao động giữa Việt Nam và các nền kinh tế trong khu vực vẫn khá lớn.

Năng suất lao động của Việt Nam hiện chỉ tương đương khoảng 11,3% Singapore, 23% Hàn Quốc, 24,4% Nhật Bản, 33,1% Malaysia, 59,1% Thái Lan và 60,3% Trung Quốc. Tốc độ tăng năng suất lao động có dấu hiệu chậm lại và chủ yếu đến từ việc tăng cường độ vốn. Đáng chú ý, nếu năng suất lao động chỉ tăng 5,2%/năm, tương đương giai đoạn vừa qua, tốc độ tăng GDP có thể thấp hơn mục tiêu hai chữ số từ 2,0–3,4 điểm phần trăm.

Ông Hiển khẳng định lợi thế chi phí thấp cần được thay thế dần bằng nhân lực có kỹ năng, có khả năng sử dụng công nghệ và thích ứng với thay đổi.

Thứ ba là tài nguyên cũng đang trở thành một giới hạn rõ rệt hơn đối với mô hình tăng trưởng. Đất đai, nước, năng lượng và các nguồn tài nguyên tự nhiên đều hữu hạn, trong khi các yêu cầu về môi trường, phát thải carbon, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn xanh quốc tế ngày càng trở thành điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận thị trường. Biến đổi khí hậu đồng thời khiến 'chi phí của tăng trưởng' ngày càng rõ ràng.

Theo World Bank (2025), nếu không tăng cường thích ứng, GDP của Việt Nam có thể thấp hơn khoảng 9,1% so với kịch bản cơ sở vào năm 2030 và 12,5% vào năm 2050. Riêng giai đoạn 2025–2050, tăng trưởng GDP thực có thể giảm trung bình 0,33 điểm phần trăm mỗi năm. Để thích ứng với biến đổi khí hậu, Việt Nam cần khoảng 233 tỷ USD trong giai đoạn 2025–2050, tương đương khoảng 0,75% GDP mỗi năm.

Với những con số này cho thấy, ông Hiển nhấn mạnh không thể tiếp tục coi tài nguyên và môi trường là 'đầu vào miễn phí' của tăng trưởng. "Mục tiêu không còn là khai thác nhiều hơn mà là tạo ra nhiều giá trị hơn trên mỗi đơn vị tài nguyên," ông nói. "Tăng trưởng mới phải tạo ra nhiều giá trị hơn với ít năng lượng, nguyên liệu, nước và carbon hơn."

Thứ tư là gia công, FDI và xuất khẩu. Đây vẫn là những yếu tố có đóng góp lớn cho tăng trưởng, nhưng giá trị gia tăng trong nước và mức độ liên kết với khu vực doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế.

Hiện khu vực FDI đóng góp khoảng 73% kim ngạch xuất khẩu, song khả năng lan tỏa tới sản xuất trong nước chưa tương xứng. Ước tính của Nhóm Nghiên cứu Ban Chính sách, chiến lược Trung ương từ bảng I/O cho thấy xuất khẩu của khu vực FDI có mức lan tỏa tới giá trị gia tăng thấp, trong khi mức lan tỏa tới nhập khẩu cao hơn.

Một số ngành đang đóng góp đáng kể vào tăng trưởng cũng chủ yếu dựa trên gia công và lắp ráp. Chẳng hạn, sản xuất điện tử, máy tính và sản phẩm quang học tăng bình quân 10,6% mỗi năm trong giai đoạn 2021–2025, đóng góp 0,53 điểm phần trăm vào tăng trưởng, nhưng phần lớn vẫn tập trung ở các khâu gia công, lắp ráp.

Theo OECD (2026), FDI vẫn đóng góp đáng kể vào tăng năng suất; nhưng doanh nghiệp FDI chưa tạo được liên kết đủ mạnh với doanh nghiệp trong nước; sản xuất FDI tập trung đáng kể vào các phân khúc sản xuất có năng suất thấp hơn, như lắp ráp điện tử, giày dép và may mặc; phụ thuộc nhiều vào đầu vào nhập khẩu làm hạn chế giá trị gia tăng và chuyển giao tri thức. Do đó, OECD nhấn mạnh cần tăng cường sử dụng các nhà cung ứng truong nước, nâng năng lực nhà cung ứng và thúc đẩy dịch chuyển lao động sang các ngành có năng suất cao hơn.

Như vậy, vấn đề không phải là từ bỏ các động lực truyền thống, mà là nâng cấp cách thức sử dụng chúng để tạo ra nhiều giá trị hơn.

Với FDI, trọng tâm cần chuyển từ thu hút theo quy mô sang thu hút theo chất lượng, công nghệ, quản trị và khả năng liên kết với doanh nghiệp trong nước.

Với sản xuất, Việt Nam cần từng bước đi từ gia công, lắp ráp sang thiết kế, nghiên cứu và phát triển (R&D) và những khâu có giá trị gia tăng cao hơn.

"Tái định hình mô hình tăng trưởng là chuyển từ mở rộng nguồn lực sang nâng cấp năng lực," ông Hiển cho biết. "Không phải chúng ta không cần thêm vốn, thêm lao động hay thêm FDI; mà là những nguồn lực đó phải tạo ra năng lực mới. Đây chính là chuyển đổi từ 'nhiều hơn' sang 'tốt hơn'.

TFP – ĐỘNG LỰC THEN CHỐT ĐỂ ĐẠT MỤC TIÊU TĂNG TRƯỞNG CAO 

Muốn đạt mục tiêu tăng trưởng trên 10%/năm trong giai đoạn tới, Việt Nam cần đưa năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) trở thành một động lực chủ động của tăng trưởng.

Giai đoạn 2021–2025, TFP đã đóng góp khoảng 47% vào tăng trưởng GDP, với tốc độ tăng khoảng 2,92%/năm. Đây là kết quả đáng ghi nhận, cho thấy tăng trưởng đã không còn chủ yếu dựa vào mở rộng vốn và lao động. Tuy nhiên, mức này vẫn chưa đủ để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng cao trong giai đoạn tới. Theo tính toán, TFP cần tăng khoảng 5,5%/năm và đóng góp trên 55% vào tăng trưởng.

Đánh giá của OECD cũng cho thấy tăng trưởng dài hạn của Việt Nam vẫn phụ thuộc khá nhiều vào tích lũy vốn; giai đoạn 2010–2022, vốn đóng góp khoảng 62% mức tăng sản lượng, trong khi vai trò của TFP còn khiêm tốn hơn. Điều đó cho thấy không thể chỉ đặt mục tiêu TFP tăng 5,5% mà kỳ vọng năng suất tự tăng. 

TFP không phải là một biến số độc lập, mà là kết quả tổng hợp của việc nền kinh tế vận hành hiệu quả hơn: doanh nghiệp đổi mới công nghệ, quản trị tốt hơn, người lao động có kỹ năng cao hơn, đồng thời vốn, lao động và các nguồn lực được phân bổ tới những khu vực có khả năng tạo ra giá trị cao hơn.

Phân rã TFP cho thấy có hai nguồn chính là tiến bộ công nghệ  hiệu quả phân bổ, hấp thụ nguồn lực. Trong đó, tiến bộ công nghệ vẫn là thành phần đóng góp lớn nhất, nhưng vai trò của hiệu quả phân bổ và hấp thụ đang ngày càng tăng.

Giai đoạn 2011–2015, tiến bộ công nghệ đóng góp khoảng 87,42% vào tăng TFP, trong khi hiệu quả phân bổ và hấp thụ chỉ khoảng 12,58%.

Đến giai đoạn 2021–2025, tỷ trọng đóng góp của tiến bộ công nghệ giảm còn 77,71%, trong khi hiệu quả phân bổ và hấp thụ tăng lên 22,29%.

Theo kịch bản 2026–2030, tỷ trọng này tiếp tục dịch chuyển: tiến bộ công nghệ khoảng 74,42%, còn hiệu quả phân bổ và hấp thụ tăng lên 25,58%.

Đến 2045, hiệu quả phân bổ và hấp thụ được ước tính vẫn duy trì ở mức khoảng 24,01%, trong khi tiến bộ công nghệ đóng góp khoảng 75,99%.

Như vậy, nếu nhìn từ năm 2011–2015 đến 2021–2025, đóng góp của hiệu quả phân bổ và hấp thụ đã tăng gần 10 điểm phần trăm, từ 12,58% lên 22,29%. Theo kịch bản 2026–2030, tỷ trọng này còn tăng thêm khoảng 3,3 điểm phần trăm, lên 25,58%.

"Điều này cho thấy một thay đổi rất quan trọng trong cách nhìn về năng suất: không chỉ cần tạo ra công nghệ mới, mà còn phải làm cho công nghệ được hấp thụ tốt hơn và nguồn lực được phân bổ đúng hơn," TS. Nguyễn Đức Hiển cho biết. "Nói cách khác, cùng một công nghệ nhưng nếu vốn vẫn nằm ở doanh nghiệp năng suất thấp, lao động không dịch chuyển đến nơi có năng suất cao hơn, hoặc doanh nghiệp không đủ năng lực hấp thụ công nghệ, thì TFP của toàn nền kinh tế vẫn khó tăng mạnh."