Vĩ mô Việt Nam

Giảm lãi suất cho vay: 'Khơi thông dòng tiền để giảm áp lực lên ngân hàng'

Vietnamfinance
· 18 giờ trước

Có thể cân nhắc là giao mục tiêu giảm lãi suất

Trung ương Đảng và Chính phủ vừa có yêu cầu đa dạng hóa nguồn vốn, giảm lãi suất cho vay, nâng cao hiệu quả đầu tư công và tạo điều kiện để kinh tế tư nhân phát triển.

Tại cuộc họp về điều hành chính sách tiền tệ mới đây, Phó thủ tướng Nguyễn Văn Thắng đề nghị các ngân hàng giảm 1,5-2% lãi suất cho vay đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên, trong bối cảnh chi phí vốn cao đang gây khó khăn cho doanh nghiệp và người dân.

Tại phiên khai mạc kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI, Thủ tướng Lê Minh Hưng cũng nhấn mạnh sẽ triển khai các giải pháp quyết liệt, hiệu quả để giảm lãi suất cho vay.

Ngay sau đó, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV, mã chứng khoán: BID) vừa triển khai chương trình cho vay ưu đãi với lãi suất từ 6%/năm, thấp hơn tối đa 2 điểm phần trăm so với mức thông thường, tùy kỳ hạn và lĩnh vực vay vốn.

Giảm lãi suất cho vay: Cần khơi thông dòng tiền, không chỉ gây áp lực lên ngân hàng.

Chương trình được áp dụng trên toàn hệ thống BIDV từ ngày 15/10/2026, dành cho các khoản vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam. Đối tượng thụ hưởng là khách hàng hoạt động trong những ngành, lĩnh vực thuộc định hướng ưu tiên của Chính phủ, đồng thời đáp ứng điều kiện của chương trình và quy định cấp tín dụng của ngân hàng.

Chủ tịch Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) Nguyễn Thanh Tùng cũng cam kết giảm tối thiểu 2% lãi suất cho vay từ nay đến cuối năm nhằm hỗ trợ doanh nghiệp.

Trao đổi với Tạp chí Đầu tư Tài chính – VietnamFinance, TS Lê Xuân Nghĩa, chuyên gia tài chính – ngân hàng, mặt bằng lãi suất duy trì ở mức cao không chỉ do yếu tố bên ngoài mà còn bởi dòng tiền trong nước luân chuyển chậm. Một lượng vốn lớn đang nằm tại Kho bạc Nhà nước và các tài khoản tiền gửi ngân sách tại ngân hàng thương mại nhà nước, chưa thể đưa vào lưu thông do chờ giải ngân đầu tư công. Trong khi đó, tiến độ giải ngân còn vướng nhiều khâu như giải phóng mặt bằng, thủ tục đầu tư và đấu thầu, khiến dòng vốn chậm đi vào nền kinh tế.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp và hộ kinh doanh có xu hướng giữ tiền thay vì gửi lại ngân hàng, một phần do tâm lý thận trọng trước những thay đổi chính sách, trong đó có quy định về thuế. Theo ông Nghĩa, trong 6 tháng đầu năm, khu vực này đã rút khoảng 2 triệu tỷ đồng khỏi hệ thống ngân hàng, phần lớn chưa quay trở lại. Dòng tiền cũng không chảy mạnh vào chứng khoán hay bất động sản mà có thể đang được nắm giữ dưới dạng vàng, ngoại tệ hoặc tiền mặt.

'Diễn biến này khiến tăng trưởng tín dụng vượt tốc độ tăng tiền gửi. Trong 6 tháng đầu năm 2026, tín dụng tăng khoảng 7,5%, trong khi tiền gửi chỉ tăng 5,5%. Các ngân hàng vì thế phải tăng lãi suất huy động để bảo đảm thanh khoản và đáp ứng nhu cầu cho vay, qua đó thu hẹp dư địa giảm lãi suất cho vay, dù Chính phủ và các ngân hàng đang nỗ lực hỗ trợ doanh nghiệp giảm chi phí vốn', ông Nghĩa nói.

Bình luận về các động thái giảm lãi trong thời gian qua, TS Huỳnh Thanh Điền, giảng viên Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, cho rằng chủ trương giảm lãi suất cho vay từ 1,5-2% đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên là cần thiết trong bối cảnh hiện nay. Tuy nhiên, để chính sách phát huy hiệu quả, cần có những biện pháp cụ thể tạo áp lực và động lực để các ngân hàng giảm lãi suất, thay vì chỉ đưa ra yêu cầu chung.

Tiếp tục hướng dòng tiền vào sản xuất, kinh doanh

Theo ông Điền, hệ thống ngân hàng có hàng chục tổ chức tín dụng với những cổ đông và mục tiêu kinh doanh riêng, do đó không thể đơn giản yêu cầu tất cả ngân hàng đồng loạt giảm lãi suất. Một giải pháp có thể cân nhắc là giao mục tiêu giảm lãi suất cho nhóm ngân hàng có vốn Nhà nước chi phối, qua đó tạo vai trò dẫn dắt thị trường.

"Khi nhóm ngân hàng này giảm lãi suất, các ngân hàng khác muốn duy trì khả năng cạnh tranh và thu hút khách hàng cũng sẽ phải xem xét điều chỉnh theo. Bên cạnh đó, cơ quan quản lý cần thay đổi cách tiếp cận trong điều hành hệ thống ngân hàng và lãi suất, thậm chí có thể nghiên cứu áp dụng trần lãi suất huy động, trần lãi suất cho vay đi kèm với hoạt động thanh tra, kiểm tra chặt chẽ", ông Điền nói.

Dòng tiền trong nền kinh tế cần được định hướng vào sản xuất, kinh doanh.

Vị chuyên gia cho rằng không nên quan niệm đã vận hành theo cơ chế thị trường thì phải để lãi suất hoàn toàn do thị trường quyết định. Bản chất hoạt động ngân hàng là sử dụng tiền gửi của người dân để cho vay, vì vậy các ngân hàng cần chú trọng hơn đến vai trò hỗ trợ doanh nghiệp và phát triển nguồn thu từ dịch vụ, thay vì chủ yếu dựa vào chênh lệch lãi suất.

Để việc giảm lãi suất lan tỏa đến đông đảo doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu, ông Điền cho rằng cần cải thiện thực chất khả năng tiếp cận tín dụng.

"Việc cho vay không nhất thiết phải phụ thuộc hoàn toàn vào tài sản thế chấp mà có thể dựa trên thẩm định báo cáo tài chính, dòng tiền và các hợp đồng kinh doanh của doanh nghiệp. Khi điều kiện vay vốn thuận lợi hơn, doanh nghiệp sẽ có thêm cơ hội tiếp cận nguồn lực phục vụ sản xuất, kinh doanh. Nếu các ngân hàng có vốn Nhà nước chi phối vừa giảm lãi suất vừa tạo điều kiện tín dụng phù hợp hơn, áp lực cạnh tranh cũng có thể thúc đẩy các ngân hàng khác điều chỉnh chính sách cho vay", ông Điền nói.

Tuy nhiên, giảm lãi suất không đồng nghĩa mọi doanh nghiệp đều có thể vay vốn. Doanh nghiệp phải có khả năng hoạt động hiệu quả và đáp ứng những điều kiện tín dụng cần thiết. Vì vậy, vấn đề không chỉ nằm ở chi phí vốn mà còn ở môi trường kinh doanh và khả năng tạo ra đầu ra cho sản phẩm.

Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đã có quy định ưu tiên nhóm doanh nghiệp này tham gia mua sắm công, nhưng khi triển khai, doanh nghiệp vẫn phải đáp ứng nhiều tiêu chuẩn về lao động, môi trường và các điều kiện khác. Những yêu cầu này có thể khiến nhiều doanh nghiệp khó tiếp cận cơ hội tham gia cung ứng hàng hóa, dịch vụ cho khu vực công. Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp nước ngoài hoạt động sản xuất, xuất khẩu tại Việt Nam vẫn phải nhập khẩu nguyên phụ liệu, linh kiện từ nước ngoài, trong khi doanh nghiệp trong nước có khả năng cung ứng nhưng chưa nhận được sự hỗ trợ phù hợp. Do đó, cần có cơ chế thúc đẩy doanh nghiệp nội địa tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, qua đó đưa dòng vốn thực sự đi vào hoạt động sản xuất.

TS Huỳnh Thanh Điền nhấn mạnh, lãi suất chỉ là một phần trong bài toán phát triển doanh nghiệp. Điều quan trọng hơn là phải triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm tạo đơn hàng, mở rộng thị trường và nâng cao năng lực sản xuất. Trong đó, cần thực hiện hiệu quả chính sách ưu tiên doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia mua sắm công, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp trong nước sản xuất, cung ứng nguyên phụ liệu và linh kiện cho các doanh nghiệp khác.

Về tổng thể, dòng tiền trong nền kinh tế cần được định hướng vào sản xuất, kinh doanh. Trong một nền kinh tế phát triển lành mạnh, người có tiền có thể trực tiếp đầu tư sản xuất, kinh doanh hoặc mua cổ phiếu, trái phiếu để cung cấp vốn cho doanh nghiệp. Ngân hàng cũng cần xác định đúng vai trò trung gian tài chính, sử dụng nguồn vốn huy động để phục vụ nền kinh tế. Trong khi đó, cơ quan quản lý phải đưa ra các biện pháp điều hành cụ thể, quyết liệt để thực hiện mục tiêu giảm lãi suất, thay vì chỉ dừng lại ở những yêu cầu mang tính định hướng.

Một vấn đề đáng chú ý, theo ông Điền, là dòng tiền tại Việt Nam vẫn có xu hướng chảy vào đất đai, vàng và các hoạt động đầu cơ thay vì phục vụ sản xuất, kinh doanh. Khi dòng vốn tập trung vào những lĩnh vực này, tín dụng cũng có nguy cơ chảy vào các hoạt động đầu cơ, làm giảm nguồn lực dành cho khu vực tạo ra sản phẩm và giá trị gia tăng cho nền kinh tế.

Vì vậy, cần giải quyết vấn đề từ gốc bằng cách giảm sức hấp dẫn của hoạt động đầu cơ bất động sản, đồng thời phát triển thị trường chứng khoán theo hướng thực sự trở thành kênh huy động vốn cho doanh nghiệp. Nhà đầu tư cần quan tâm đến năng lực hoạt động và triển vọng phát triển của doanh nghiệp, thay vì chủ yếu mua đi bán lại cổ phiếu để kiếm lời từ biến động giá.