TS Nguyễn Đức Hiển: Cần cơ chế mới để huy động vốn quốc tế phục vụ phát triển

Giảm áp lực cho ngân hàng, phát triển thị trường vốn
Phát biểu tại hội thảo 'Khơi thông dòng vốn, giải phóng nguồn lực cho mục tiêu tăng trưởng hai con số' do Tạp chí điện tử Kinh tế Chứng khoán Việt Nam phối hợp với Hệ sinh thái truyền thông tài chính Người Quan Sát tổ chức, TS Nguyễn Đức Hiển, Phó trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương cho biết mục tiêu tăng trưởng cao đòi hỏi nguồn vốn rất lớn.
"Cùng với việc đánh giá tình hình kinh tế năm 2026 và xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế năm 2027, một trong những câu hỏi quan trọng nhất là nguồn lực tài chính sẽ được huy động từ đâu và sử dụng như thế nào để đạt hiệu quả và hỗ trợ cao nhất cho mục tiêu tăng trưởng", TS Nguyễn Đức Hiển nói.

Dẫn các số liệu thống kê, TS Nguyễn Đức Hiển cho biết tổng nhu cầu vốn phục vụ mục tiêu tăng trưởng giai đoạn 2026-2030 ước khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, cao hơn đáng kể so với quy mô vốn huy động trong giai đoạn 2021-2025. Điều này cho thấy áp lực huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển trong 5 năm tới sẽ lớn hơn nhiều so với giai đoạn trước.
Cụ thể, vốn đầu tư từ khu vực nhà nước trong giai đoạn 2026-2030 được ước tính khoảng 12,5 triệu tỷ đồng, trong đó vốn đầu tư công khoảng 8,3-8,5 triệu tỷ đồng. Vốn đầu tư ngoài nhà nước dự kiến tăng từ khoảng 9,8 triệu tỷ đồng trong giai đoạn 2021-2025 lên khoảng 20,4 triệu tỷ đồng trong giai đoạn tiếp theo. Vốn đầu tư của khu vực FDI cũng được kỳ vọng tăng từ khoảng 2,8 triệu tỷ đồng lên khoảng 5,6 triệu tỷ đồng.
Tổng vốn đầu tư toàn xã hội theo đó dự kiến tăng từ khoảng 11,3 triệu tỷ đồng trong 5 năm trước lên khoảng 20 triệu tỷ đồng trong giai đoạn 2026-2030.
Quy mô nguồn lực cần huy động rất lớn, bao gồm cả nguồn vốn ngân sách và ngoài ngân sách. Theo TS Nguyễn Đức Hiển, điều này đòi hỏi phải tìm kiếm các giải pháp mới để mở rộng khả năng huy động vốn, thay vì phụ thuộc quá nhiều vào một kênh dẫn vốn nhất định.
Đánh giá tình hình kinh tế, TS Nguyễn Đức Hiển cho biết Việt Nam đạt kết quả tăng trưởng tích cực trong 9 tháng đầu năm 2026, với GDP tăng 9,01%. Riêng quý III, mức tăng trưởng đạt gần 10%. Tuy nhiên, đà tăng trưởng cao cũng đặt ra nhiều áp lực đối với việc cân đối nguồn vốn, điều hành chính sách tiền tệ và duy trì ổn định kinh tế vĩ mô.
Một trong những vấn đề đáng chú ý là áp lực thanh khoản đối với hệ thống ngân hàng trong bối cảnh nhu cầu huy động vốn và cho vay tăng lên.
Theo số liệu được ông Hiển đề cập, tăng trưởng tín dụng trong 9 tháng đạt khoảng 9,23%, trong khi mức tăng trưởng tín dụng đến cuối năm 2025 được nêu ở khoảng 10,5%. Đáng lưu ý, khoảng 80% nguồn vốn huy động có kỳ hạn dưới 12 tháng, trong khi khoảng 5% tín dụng tập trung vào một nhóm lĩnh vực.
Thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính đã phối hợp điều hành chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa nhằm hỗ trợ tăng trưởng nhưng vẫn kiểm soát lạm phát. Dù vậy, lạm phát 9 tháng đầu năm ở mức khoảng 4,52%, cao hơn một số mục tiêu đặt ra, khiến yêu cầu duy trì ổn định kinh tế vĩ mô tiếp tục được đặt ra song song với nhiệm vụ thúc đẩy tăng trưởng.
TS Nguyễn Đức Hiển cho rằng vốn là điều kiện không thể thiếu để thúc đẩy tăng trưởng, nhưng nếu tiếp tục đặt phần lớn gánh nặng huy động nguồn lực lên hệ thống ngân hàng, áp lực đối với kênh dẫn vốn này sẽ ngày càng lớn.
Vì vậy, cần đa dạng hóa các nguồn lực, đồng thời nâng cao khả năng huy động vốn của hệ thống tài chính. Một trong những giải pháp được đặt ra là đẩy nhanh việc tăng vốn cho các ngân hàng thương mại có vốn nhà nước chi phối, tạo điều kiện thuận lợi hơn để các ngân hàng, bao gồm ngân hàng thương mại cổ phần, huy động vốn từ nước ngoài.
Tuy nhiên, ông Hiển lưu ý chi phí vay vốn quốc tế hiện ở mức cao, trong khi điều hành chính sách tiền tệ phải cân đối nhiều mục tiêu khác nhau. Bên cạnh đó, cơ quan quản lý cần tiếp tục tìm giải pháp kiểm soát cuộc đua lãi suất huy động giữa các ngân hàng, hạn chế những áp lực phát sinh trong quá trình huy động vốn.
Ngoài hệ thống ngân hàng, thị trường tài chính, đặc biệt là thị trường chứng khoán, cần đóng vai trò lớn hơn trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế. Theo ông Hiển, thị trường cổ phiếu và trái phiếu cần tiếp tục được phát triển trên cơ sở cải cách thực chất, đồng bộ.
Việt Nam đã có đề án cải cách thị trường tài chính với nhiều nhiệm vụ, giải pháp cho giai đoạn cuối năm 2026, năm 2027 và cả giai đoạn 2026-2030. Vấn đề quan trọng hiện nay là xác định những điểm nghẽn cần ưu tiên xử lý, bảo đảm các giải pháp được triển khai đồng bộ và thực chất.
Theo TS Nguyễn Đức Hiển, việc thị trường chứng khoán được nâng hạng không có nghĩa mọi vấn đề đã được giải quyết. Nếu thiếu cải cách thực chất và triển khai không đồng bộ, thị trường vẫn có thể đối mặt với những đánh giá bất lợi, gây tâm lý bất ổn cho nhà đầu tư, ảnh hưởng đến uy tín và triển vọng phát triển dài hạn.
"Do đó, cần tăng cường phối hợp giữa các bộ, ngành, đặc biệt là Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính, trong hoàn thiện cơ chế thị trường. Một trong những yêu cầu là tạo điều kiện để nhà đầu tư tiếp cận các công cụ phòng ngừa rủi ro ngoại hối, đồng thời bảo đảm an toàn cho hệ thống tài chính", TS Nguyễn Đức Hiển khẳng định.
Ông Hiển cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải mở rộng cơ sở nhà đầu tư, khơi thông nguồn vốn từ các quỹ đầu tư và tổ chức trong xã hội để đưa nguồn tiền vào thị trường tài chính. Việt Nam cần có chính sách phù hợp nhằm thu hút các nhà đầu tư tổ chức, đặc biệt là các quỹ đầu tư quốc tế, tham gia sâu hơn vào thị trường trong nước.
Đối với thị trường trái phiếu doanh nghiệp, việc hoàn thiện cơ chế cần tập trung khắc phục những lỗ hổng từng bộc lộ trong quá trình vận hành. Các vấn đề về xếp hạng tín nhiệm, công bố thông tin và bảo vệ nhà đầu tư cần được xử lý để củng cố niềm tin thị trường.
Theo TS Nguyễn Đức Hiển, bảo vệ nhà đầu tư phải đi cùng với việc xác định rõ trách nhiệm của các bên trong quan hệ vay nợ, mua bán. Nhà đầu tư cần được cung cấp đầy đủ thông tin, trong khi cơ chế quản lý phải bảo đảm tính nhất quán, minh bạch và có khả năng thực thi.
Một điểm nghẽn khác là khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Một số mô hình kết nối giữa ngân hàng với doanh nghiệp thuộc nhóm này đã bước đầu cho thấy hiệu quả trong giai đoạn thí điểm. Theo ông, cần nghiên cứu thêm các hình thức phù hợp để doanh nghiệp tiếp cận tín dụng thuận lợi hơn, giảm khâu trung gian và chi phí phát sinh.
Đối với doanh nghiệp khoa học và công nghệ, khó khăn còn nằm ở việc sử dụng tài sản trí tuệ làm tài sản bảo đảm. Dù các quy định pháp luật đã có điều chỉnh liên quan, quá trình triển khai trên thực tế vẫn gặp nhiều vướng mắc, đặc biệt là khâu định giá tài sản trí tuệ.
Vì vậy, cần xác định rõ những vướng mắc xuất phát từ quy định của ngân hàng, vấn đề minh bạch thông tin hay cơ chế định giá tài sản, từ đó làm rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý và các bên liên quan.
Khơi thông vốn quốc tế và nguồn lực đang bị ách tắc
Bên cạnh việc phát triển thị trường vốn trong nước, TS Nguyễn Đức Hiển cho rằng cần nghiên cứu các cơ chế mới để huy động nguồn vốn quốc tế phục vụ phát triển hạ tầng.

Theo ông, một số tổ chức tài chính đang nghiên cứu phương án kết hợp các nguồn lực đầu tư, trong đó có sự tham gia của khu vực tư nhân và Nhà nước. Việt Nam có nhu cầu lớn về vốn phát triển hạ tầng, nhưng việc thu hút nguồn lực quốc tế đòi hỏi cơ chế rõ ràng, có khả năng triển khai nhanh và phân định phù hợp trách nhiệm của các bên.
Nhà nước có thể cần tham gia chia sẻ một phần rủi ro để tạo điều kiện thu hút nhà đầu tư quốc tế. Tuy nhiên, quá trình nghiên cứu, xử lý và hoàn thiện thủ tục hiện vẫn kéo dài. TS Nguyễn Đức Hiển dẫn ví dụ về một quy trình có thể mất khoảng 8 tháng, qua đó nhấn mạnh yêu cầu cải thiện tiến độ xử lý công việc và nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan.
Cùng với đó, chính quyền địa phương cần chủ động hơn trong tìm kiếm và huy động vốn phục vụ phát triển. Theo ông, các địa phương không nên chỉ trông chờ vào nguồn vốn ngân sách hoặc tiến độ giải ngân từ cấp trên, mà cần nghiên cứu khả năng tiếp cận vốn quốc tế và những cơ chế phù hợp với điều kiện thực tế.
Để thực hiện điều này, cần làm rõ các vướng mắc về quy chế, cơ chế vay vốn và trách nhiệm của các cấp liên quan. Việc tăng quyền chủ động cho địa phương phải đi kèm với cơ chế kiểm soát rủi ro và bảo đảm hiệu quả sử dụng vốn.
Ngoài các kênh huy động vốn chính thức, nguồn lực từ đất đai, các dự án tồn đọng và nguồn vốn trong dân cũng cần được khơi thông. Theo TS Nguyễn Đức Hiển, Chính phủ đã có những động thái tháo gỡ khó khăn cho các dự án tồn đọng và xây dựng cơ chế đặc biệt để xử lý vướng mắc. Tuy nhiên, vẫn cần tiếp tục rà soát những vấn đề còn tồn tại nhằm đưa các dự án có khả năng triển khai trở lại hoạt động, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Đối với nguồn vốn trong dân, ông Hiển cho rằng việc huy động phải gắn với lợi ích thực tế của người có tiền.
"Chính sách cần tạo dựng niềm tin, bảo đảm quyền lợi và giúp người dân nhìn thấy hiệu quả khi tham gia đầu tư phát triển, thay vì chỉ dừng lại ở việc kêu gọi đóng góp nguồn lực", Phó ban Chính sách Chiến lược Trung ương khẳng định.